Đi tìm nguyên nhân sâu xa của việc học sinh phổ thông học kém môn Lịch sử

Sau cách mạng tháng Tám 1945, tôi học Trung học tại một trường Tư thục Công giáo ở Huế bị quân Pháp tạm chiếm. Cùng học với tôi có một người bạn nhà rất nghèo song học rất giỏi, nhất là hai môn Pháp văn và Toán, do đó, luôn đứng đầu lớp. Nhưng một thời gian sau, không thấy anh đi học nữa. Té ra, anh đã thi đậu vào một trường Tây, học theo chương trình của Pháp, học sinh phần lớn là con cái người Pháp.

Tôi gặp anh, anh rất tự hào bảo: “Mình học với bọn Tây con, chúng nó dốt lắm, học bằng tiếng Tây nhưng môn nào mình cũng đè đầu chúng nó. Chúng nó còn bảo: chúng tao không cần học giỏi, còn dành thì giờ chơi đã. Còn dành sức lên học đại học. Lên đại học, chúng tao sẽ học giỏi cho mà coi”. Tất nhiên, anh bạn tôi không thể chứng nghiệm được lời nói của các người bạn Tây con ấy. Bởi vì học chưa đến Tú tài bán phần, anh đã phải bỏ học vì sức khỏe sút kém, hơi nhuốm bệnh lao, nhà nghèo túng, phải đi làm thư ký thương mại ở một sở tư.

Sau đó là kháng chiến, chúng tôi không gặp lại nhau nữa, cho đến bây giờ. Sau này làm nghề sư phạm, tôi nghiệm ra từ câu chuyện của bạn tôi, có một chút đạo lý.

Ngày xưa, lớp người trẻ chúng tôi dồn sức học cho thật giỏi ở các lớp dưới, học quên ăn ngủ, quên giờ giấc, quên chơi đùa, thời bấy giờ gọi là “học gạo”, nghĩa là học để chóng ra đời làm công chức, tư chức, “kiếm cơm”. Đại học chỉ là giấc mơ xa xôi, không bao giờ dám nghĩ đến. Tuy học phổ thông nhưng chính ra là học chuyên nghiệp, tức là học nghề - một nghề duy nhất hồi đó làm công chức cho Tây, được gọi tên là “nghề cạo giấy”. Chỉ một số người học giỏi mà có điều kiện mới học được lên cao, sang Tây du học, làm trí thức cấp cao, nhưng thực ra cũng tiếp tục cái nghề công chức làm thuê cho Tây ở cấp cao hơn mà thôi.

Tôi nhận thấy đối với đa số học sinh ngày ấy, cái học nhân văn như lòng yêu nước, đạo làm người, các môn học Lịch sử, Địa lý, Văn hóa nước nhà, nhà trường không hề dạy mà do học từ cuộc sống, từ thời thế, từ phong trào yêu nước, kháng chiến cách mạng, đặc biệt học từ các thầy giáo có lòng yêu nước. Khoa học cao cấp, kỹ thuật cao cấp cũng không mấy người học được, phần lớn học những nghề thấp để làm thợ, làm công, làm thuê, nếu không muốn trở về cày ruộng. Một số khá đông bị lùa vào “quân dịch” làm lính đánh thuê “Rớt tú tài anh đi trung sĩ”.

Nghĩ lại mà thương anh bạn của tôi ngày ấy, cả tự thương mình và hiểu vì sao bọn Tây con hay con Tây kia chúng nó được học mà còn được chơi, học trung học mà còn dùng sức để học đại học, không thèm ganh đua học giỏi với mấy thằng học trò bản xứ học giỏi hơn chúng nó, kể cả mấy môn tiếng Tây. Vì chúng nó biết chúng nó sẽ đi xa hơn chúng tôi nhiều, nếu cái “chế độ Bảo hộ” của chúng vẫn còn tồn tại ở Việt Nam ta.

Tất nhiên, cái “chế độ Bảo hộ ấy” không thể tồn tại mãi được. Song cái kiểu nhà trường, cái lối học tập mà nó sinh ra vẫn còn ảnh hưởng ở cái nước Việt Nam độc lập này, tạo nên một lối mòn mà chúng ta ngày nay vẫn vô tình tiếp tục đi theo. Ví như: Hà cớ gì mà con em chúng ta ngày nay, ngay ở trường phổ thông ở cấp tiểu học, vẫn phải quên ăn, quên ngủ, bỏ cả chơi đùa với niềm vui tuổi thơ và tuổi trẻ, quên cả sức khỏe, vệ sinh, cặm cụi học Toán, Lý, Hóa, bỏ cả Văn, Sử, Địa, ngày đêm “học gạo” để kiếm một mớ điểm, một mảnh bằng để học lên đại học, để thoát nghề lao lực, thành người lao tâm, để được làm thầy, làm quan, may ra “có thể ăn trên ngồi trốc” so với những người lao động.


Ảnh minh họa.

Nếu muốn học một cái nghề thiết thực mà lương thiện thì các trường chuyên nghiệp không có đủ, hoặc có thì không ai thèm vào, bất đắc dĩ mới vào. Ngày xưa, vì mất nước cho nên khi đi học không ai dạy cho Lịch sử, Địa lý, Văn hóa nước nhà, mà cũng cố tìm lấy mà học, có người vừa gạt nước mắt vừa học “Học quốc sử cho khỏi tủi quốc hồn” nhà sử học Trần Trọng Kim viết như vậy đầu cuốn Việt Nam sử lược. Không có lòng thì thôi, chỉ cần học ba chữ Tây và vài môn học để thi đỗ ra đời kiếm ăn.

Ngày nay, chương trình quy định, nhà trường bắt buộc, nhà nước cổ vũ học các môn học dân tộc, xã hội, nhân văn thì “thầy nản, trò chán”, “phân ban là cách tốt nhất để tiêu diệt các môn học nhân văn”... (Ý kiến tại cuộc thảo luận về môn sử ở TP.HCM). Các môn học ấy để làm người nhưng lại không kiếm ra tiền thì học để làm gì?

Đúng là nếu giáo dục chỉ để phục vụ phát triển kinh tế tức là đi theo chủ nghĩa thực dụng thì các môn học nhân văn không có ý nghĩa giá trị gì nữa, chỉ là những thứ trang trí, trang sức mà thôi. Hỏng thi, thất nghiệp thì nhớ đến tổ tiên phỏng có ích gì?

Tôi kể câu chuyện quá khứ trên đây để muốn đi tìm nguyên nhân sâu xa của tình trạng thê thảm của môn Lịch sử trong nhà trường phổ thông (không chỉ môn Lịch sử mà tất cả các môn Nhân văn, Xã hội khác nữa).

Theo tôi, nguyên nhân sâu xa là ở chỗ đường lối giáo dục của chúng ta mà nhiều lần tôi đã nói: nó rời xa Chủ nghĩa nhân văn để đi vào Chủ nghĩa thực dụng. Một nền giáo dục thực dụng thì không thể nào coi trọng sự giáo dục nhân văn, các môn học nhân văn. Dù cố gắng áp đặt thì nó cũng chỉ có tính chất miễn cưỡng mà thôi, không thể nào tạo ra sự tự nguyện được.

Đó là nói nguyên nhân chung nhất. Còn cụ thể hơn là trong thực tiễn giáo dục, chúng ta không phân biệt được giáo dục phổ thông (giáo dục con người) và giáo dục chuyên nghiệp (đào tạo ngành nghề), bắt giáo dục phổ thông gánh nhiệm vụ của giáo dục chuyên nghiệp. Đáng lẽ ra, giáo dục phổ thông có mục tiêu chính là giáo dục toàn diện theo ý nghĩa giáo dục những con người có văn hóa phổ thông, cái văn hóa bao gồm những giá trị nhân văn cơ bản để làm người chân chính.

Dù chia ra các môn KHXH, KHTN, KHKT nữa, song tất cả các môn học phổ thông đều là những môn học nhân văn, có mục đích bồi dưỡng trí tuệ và tâm hồn, ý thức và tình cảm, thường gọi là Đức, Trí, Thể, Mỹ. GDPT chưa trực tiếp chuẩn bị cho học sinh ra đời, làm việc, hành nghề. Muốn làm việc đó, con người phải qua một giai đoạn giáo dục nữa: đó là giáo dục chuyên nghiệp, thấp thì ở trung học, cao hơn là ở đại học. Ở đó thì mới phân ban, phân ngành ra mà học, đi vào chuyên môn, chuyên nghiệp, chuyên nghề.

Dạy và học phổ thông phải khác dạy học chuyên nghiệp, GDPT thì dạy làm người, chuẩn bị học nghề (gọi là hướng nghiệp), còn GDCN thì dạy học nghề (tức chuyên nghiệp) đồng thời tiếp tục dạy làm người. Đi vào chuyên nghiệp thì học sinh các ngành XHNV không cần học kỹ KHKT và ngược lại. Song khi còn học PT thì không thể như thế. Phải học đều, học giỏi, họa thấm thía các môn. PT là nền tảng nên cần học rộng. CN là nghề nghiệp nên phải học sâu.

Các nhà khoa học và giáo dục hiện đại đã khẳng định rằng: học rộng và học sâu có quan hệ chặt chẽ với nhau. Không rộng thì không thể sâu cũng như không sâu thì không thể rộng, như gốc rễ với thân cành, nền móng với tường mái, bên dưới có vững thì bên trên mới cao.

Lẫn lộn hai bộ phận giáo dục này là nguyên nhân gây ra tình trạng bên nào cũng kém, cái kém của GDPT kéo theo cái kém của GDCN, vì làm người đã kém thì nghề nào cho giỏi? Tình trạng yếu kém của môn Sử chỉ là hệ quả của một sự yếu kém lớn hơn. Đó là sự lệch lạc nhỏ do một sự lệch lạc lớn, một sự trục trặc vi mô từ một sự trục trặc vĩ mô. Chữa bệnh mà chỉ chữa chứng chứ không chữa căn thì không bao giờ lành bệnh. Dù sách hay, thầy giỏi, thêm giờ thi cử ngặt nghèo đến đâu mà động lực học tập của người học và gia đình, xã hội không có, thì kết quả học tập không thể tốt, mà có tốt cũng chỉ là hình thức, không thể đi vào thực chất.

Kém Sử, kém Văn, kém đọc sách, kém lễ độ, đạo đức, kém sức khỏe, vệ sinh... đều chỉ là dấu hiệu của một sự yếu kém toàn thân (faiblesse gene’rale) của ngành giáo dục do một đường lối giáo dục lệch lạc và sai lầm, điều mà những người lãnh đạo, quản lý và thực hiện giáo dục của chúng ta hiện nay khó lòng chấp nhận để sửa chữa. Còn nếu cần sửa chữa thì trước hết là về tư tưởng sau đó là về tổ chức.