Khối tình không phôi pha

Ngôi sao băng trên biền dâu

Trong những ngày tháng 7 năm 2000, trong khi theo dõi tiến độ thi công bia tưởng niệm nhà văn Chu Cẩm Phong và các chiến sĩ hy sinh trong trận càn vào thôn Vinh Cường-Duy Xuyên ngày 1/5/1972, là dịp tôi đi nhiều hơn trên con đường chạy qua Xuyên Thanh, Xuyên Lộc, Xuyên Phú, Xuyên Hòa, được nhìn những bãi dâu xanh, những lũy tre dày, hình ảnh mà những ngày chiến tranh ác liệt chỉ là ước mơ. Mơ có những bụi tre dày để làm công sự mật, mơ có những bãi dâu xanh để chạy dưới tán dâu, máy bay địch không tài nào nhìn thấy.

Mỗi lần lại qua đoạn đường này, tôi tự hỏi, giữa nhà văn Chu Cẩm Phong và nghệ sĩ múa Phương Thảo có hẹn hò gì không mà cả hai đều chia tay với Thượng nguồn Trà My-Thu Bồn, đi công tác, rồi hy sinh, nằm lại trên biền dâu, bên bờ sông Thu Bồn, chỉ cách nhau chừng hai cây số?

Nhiều chuyện trên đời này diễn ra từ một sự tình cờ. Nếu trong tình yêu đôi lứa, người ta bảo đó là duyên nợ, thì, có phải không, cái chết của đôi tình nhân này là một cuộc hẹn hò?

Tôi kể câu chuyện sau đây bằng tai nghe, mắt thấy, góp thêm tư liệu để trả lời câu hỏi trên.

Võ Thị Phương Thảo sinh ngày 8/10/1943, tức năm Quý Mùi, quê xã Điện Phương, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, vào ngành múa ngày 20/7/1960. Là một diễn viên múa xuất sắc của Đoàn ca múa Trung ương. Một người con gái đẹp, lại múa đẹp nữa, nên Phương Thảo luôn được chọn đi biểu diễn ở nước ngoài. Chị đã theo Đoàn ca múa Trung ương đi biểu diễn hầu hết các nước xã hội chủ nghĩa anh em thời bấy giờ.

Theo tiếng gọi của miền Nam, Nghệ sĩ ưu tú Phương Thảo lên đường vào Nam, vào với chiến trường Khu V, sinh hoạt tại Tiểu ban văn nghệ Khu V. Cùng với bao nhiêu nghệ sĩ khác, làm một nhiệm vụ không dễ dàng: tiếng hát át tiếng bom.

Giữa mùa xuân năm 1967, là thời điểm miền Nam đang tập trung chuẩn bị cho mùa xuân năm 1968 - chiến dịch xuân Mậu Thân. Ban Tuyên huấn Khu Trung Trung Bộ cử nghệ sĩ Trần Khắc Tạo đạo diễn dân ca, nghệ sĩ Khánh cao (ba của Nghệ sĩ nhân dân Trà Giang), phụ trách văn công, và Phương Thảo diễn viên, biên đạo múa, về đồng bằng tham gia biểu diễn và bồi dưỡng chuyên môn cho Đoàn văn công Giải phóng Quảng Đà. Trước đó, nhạc sĩ Văn Cận đã về giúp cho Đoàn văn công Giải phóng Quảng Đà.

pic
Nghệ sĩ múa Phương Thảo

Trong những ngày công tác trên đất Quảng Đà ác liệt, gian khổ và hừng hực khí thế cách mạng, Phương Thảo đã bám theo đoàn văn công đi biểu diễn ở các vùng giải phóng Đại Lộc, Điện Bàn, Duy Xuyên… Lúc nào chị cũng lạc quan, vui tươi. Sau những giờ biểu diễn, tập luyện, chị thường ngồi lại viết nhật ký, viết thư.

Hồi ấy, nghe đoàn văn công về biểu diễn, bất luận đó là đoàn của huyện hay của tỉnh, của bộ đội, bà con ta nô nức đi xem. Biết đi xem văn nghệ có khi bị pháo chụp, bị bom tọa độ rập rình, vậy mà bà con rất ước ao được xem văn công giải phóng, vẫn muốn được xem các cô diễn viên xinh đẹp, hát hay. Một bà mẹ ở Gò Nổi, sau khi xem biểu diễn của Đoàn văn công Giải phóng Quảng Đà, hôm ấy có tiết mục múa của Phương Thảo, đã thốt lên, con gái nhà ai mà đẹp như tiên giáng trần.

Trong một chuyến công tác từ Đại Lộc, vượt qua sông Thu Bồn, về Khu tây Duy Xuyên, theo kế hoạch dự trù, sẽ biểu diễn dọc theo các xã ven sông, từ khu tây xuống khu đông, nếu còn thì giờ và tình hình cho phép, thì sẽ vượt sông Trường Giang, sang biểu diễn ở vùng cát ven biển của Duy Xuyên và Thăng Bình, trước khi lên đường về lại Trà My. Vừa đến thôn Thanh Châu thì bất ngờ, bị một loạt cối của địch, từ đồn Kiểm Lâm - cái đồn ở đoạn giữa trên đường từ thôn La Tháp lên Vinh Cường.

Trời chiều đã tắt nắng, thời điểm ngày và đêm tranh chấp nhau, bọn pháo cối thường bắn cầm canh theo những con đường mòn chúng biết Việt cộng đi qua, biết vậy nên mấy anh em hối hả đi về Xuyên Thanh, nơi có trạm liên lạc của Ban Tuyên huấn Quảng Đà, thì bỗng một ánh chớp lóe sáng, tiếp theo, một tiếng nổ ầm.

Tiếng cây cành gãy đổ, tiếng cát sạn tóe tung, và một giọng nói quen thuộc gọi “Em bị thương rồi!”. Nghệ sĩ Khánh cao, nhà báo Hoài Hà chạy đến thì thấy Phương Thảo đang nằm nghiêng trên đất, lưng còn đeo chiếc ba lô con cóc, mắt nhắm nghiền đau đớn. Phát hiện một mảnh cối xuyên qua ngực Phương Thảo, từ phía sau lưng, trong tiếng pháo cầm canh đầy đe dọa, trên đường thôn sau cơn mưa đầu mùa hè còn trơn trợt, nhiều đoạn giao thông hào sũng nước và bùn, chưa kịp khiêng Phương Thảo đến bệnh xá gần nhất thì Phương Thảo tắt thở.

Qua trạm giao liên ở Khu tây Duy Xuyên, liên hệ được với du kích Xuyên Thanh, Xuyên Lộc (nay là Duy Châu) cùng bà con địa phương ở gần đó, tổ chức khâm liệm, chôn cất Phương Thảo ngay trong đêm tối dày đặc.

Như bất cứ cán bộ, chiến sĩ nào đi công tác hy sinh thì nhờ địa phương giúp đỡ, trường hợp hy sinh của Phương Thảo chỉ khác ở chỗ, trong đêm, nghe một diễn viên của đoàn văn công hy sinh, bà con làng La Tháp-Thanh Châu nháo cả lên, nhất là nghe tin cô văn công xinh đẹp ấy hy sinh. Bà con chạy đến hỏi han, thương tiếc, nhiều người ứa nước mắt…

Lúc bấy giờ, lại là đêm hôm, tìm đâu ra một cái hòm. Biết vậy nên các mẹ, các chị tìm mấy cái áo sáng sủa, vừa cỡ, mặc thêm cho Phương Thảo khỏi lạnh. Nhiều mẹ khóc sướt mướt, “con nhà ai mà tội như ri”. Trong khi đó, mấy chiến sĩ du kích chạy ra bãi sông, cõng cát khô về đổ quanh người Phương Thảo, trước khi lấp đất xuống… Rất may, và có lẽ, vạn sự tùy duyên, hôm ấy, giờ phút đau thương ấy, cha mẹ, anh chị của Phương Thảo đang ở ngoài thủ đô Hà Nội xa xôi ngàn dặm, làm sao biết được có một người nông dân bám trụ, là một cán bộ Nông hội xã Xuyên Thanh, tên là Văn Ba, đã cùng ông Bông - một người bạn chiến đấu, khiêng chị lên đám thổ nhà mình chôn cất đàng hoàng.

Từ ấy, nhất là những ngày sau khi hòa bình lập lại, ông Văn Ba đã xem Phương Thảo như một người thân trong gia đình, vẫn thắp hương, dẫy mả trong dịp Tết, lễ Thanh Minh…

Làm sao chúng ta có thể ngờ rằng, nơi mảnh đất bên biền dâu xanh này, Phương Thảo và Chu Cẩm Phong đã một lần gặp nhau, và là lần gặp nhau cuối cùng.

Gặp nhau lần cuối?

Chu Cẩm Phong ghi vào nhật ký:

Thứ năm 1/1/1967:

Qua 2 đêm xem đội văn công Quảng Đà diễn mình thấy thương và lo. Trình độ còn thấp quá, nhưng rất nhiệt tình.

Mình thương Phương Thảo quá. Em phải lên múa hát mặc dù không có nhạc (anh Hiến phải lên đàn) và Em không mang theo áo quần. Em mặc đẹp lắm. Mình rất cảm động khi Em hát bài Tân Cương đẹp. Em đã biết ý thích của mình.

Thứ sáu 20/1/1967:

Ngày mai mình đã về. Hôm nay Đại hội Tổng kết và phổ biến kế hoạch Tết .Mình không lên hội trường, hai đứa hẹn nói chuyện chơi. Nhưng thật khổ cho bọn mình, nhà nào cũng có người, bọn mình không có lấy 10 phút tự do, vắng lặng để ngồi bên nhau hưởng cái êm dịu của Tình yêu. Mình lại ngồi nói chuyện với Học, Hà, Mười(*). Em ngồi ghi nhật ký và viết thư về cho các anh ở nhà. Thỉnh thoảng Em mới nghiêng đầu sát vào mình hỏi: “Anh định hỏi Em chuyện gì?”, “Anh ở lại với Em một ngày nữa nhé!”…

Những ngày vừa rồi, chúng mình chỉ có thể ngồi bên nhau ziữa đám đông như vậy, lòng quấn quít bên nhau.

Tối nay mình và Em ngồi nói chuyện với anh Quít. Bọn mình vẫn có những niềm vui thầm kín. Hình như cô Nguyên kia biết, thỉnh thoảng mình bắt gặp cặp mắt của cô ta từ dãy ghế bên kia nhìn sang bằng cái nhìn như muốn nói: “Tôi biết hai anh chị rồi”. Mình nắm tay Em vuốt nhè nhẹ. Em hỏi thầm vào tai mình lúc mọi người chú ý vào việc quay fim:

- Đến bao giờ Anh mới nói chuyện gì đó với Em? Ghét thế!

- Anh có muốn Em sống bên Anh không?

- Giá như chúng mình cùng về Anh nhỉ!

Đưa Em về nhà, mình dừng lại ở đoạn đường rẽ về nhà mình, hôn Em. Em nắm tay mình bảo mình vào nhà Em chơi một lát, nhưng mình từ chối, mặc dù mình rất muốn, nhưng vì lý do khác. Chắc còn lâu lắm mình mới lại ôm Em để hôn lên đôi môi mọng duyên dáng này.
Ban Tuyên huấn ở đây yêu cầu chú Khánh và Em ở lại huấn luyện đến cuối tháng ba.
Nhành cỏ-thơm-óng ả của Anh ơi, đêm nay Em hãy ngủ ngon nghe!

pic
Bút tích của nhà văn Chu Cẩm Phong

Sau năm 1975, thống nhất đất nước, cùng với chủ trương phá gỡ bom mìn, khai hoang phục hóa, có cuộc vận động di dời mồ mả dành đất cho sản xuất lương thực, quyết không để cho ai bị đói, Đảng và nhà nước ta có một chủ trương lớn là công tác đền ơn đáp nghĩa, trong đó có những chiến dịch tìm đưa hài cốt liệt sĩ về Nghĩa trang liệt sĩ.

Nhà văn Chu Cẩm Phong, tên thật là Trần Tiến, sinh năm 1941 tại Cẩm Phô, thành phố Hội An. Năm 1964, sau khi tốt nghiệp khoa Ngữ văn trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, anh xung phong vào chiến trường Khu 5, viết văn và chiến đấu cho đến ngày hy sinh khi ở tuổi 30.

Là tác giả hai tập truyện và ký Mặt biển mặt trận, Rét tháng giêng; đã cùng với đồng đội chiến đấu kiên cường với lời thề quyết không đầu hàng quân thù và đã hy sinh anh dũng. Trong các quyển sổ ghi nhật ký từ  cuối năm 1967 đến bốn ngày trước khi Chu Cẩm Phong hy sinh, ngày 1/5/1971, người thân đã tập hợp lại xuất bản nên quyển sách mang tên Nhật ký chiến tranh.

Nhật ký chiến tranh của anh được trao tặng thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam, và tác giả cũng đã được truy tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật. Tháng 3/2010, Chu Cẩm Phong được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang nhân dân. Anh là nhà văn đầu tiên được phong tặng danh hiệu này.

Như bao liệt sĩ hy sinh không có thân nhân, hài cốt của Phương Thảo cũng lọt vào diện di dời, nhưng gia đình ông Văn Ba vẫn im lặng, ông tâm niệm, khi nào đúng gia đình của cô ấy đến tìm thì ông mới đồng ý cho di dời, còn không có ai là người thân đến tìm thì ông xem cô như một người thân trong gia đình. Thật lòng mà nói, khi chôn Phương Thảo, ông chỉ biết đó là một cô văn công giải phóng, không biết gì hơn. Đúng hai mươi năm sau mới có người nhà của Phương Thảo tìm được ông Văn Ba, nói rõ sự tình.

Việc tìm hài cốt của Phương Thảo cũng gian nan, vất vả, có lúc vô vọng như bao nhiêu hài cốt các chiến sĩ giải phóng trên đất lửa Quảng Nam - Đà Nẵng, trên đất thép thành đồng miền Nam Việt Nam. Hàng ngàn chiến sĩ đã thành liệt sĩ nằm trong nghĩa trang mà không có tên, họ, quê quán, hàng ngàn liệt sĩ không biết trôi dạt về phương mô. Gia đình, đồng đội mãi hỏi tìm. Mẹ của Phương Thảo, những ngày cuối đời luôn hỏi tin con, trước khi nhắm mắt, bà còn dặn “cố tìm cho được con Út”.

Khoảng mươi, mười lăm năm sau ngày giải phóng 1975, lúc người thân bắt đầu cảm thấy tuyệt vọng thì người ta chỉ còn biết tin vào điều kỳ lạ, tin vào thần linh, vào những đấng siêu nhân. Lúc bấy giờ, xuất hiện một số ông thầy, bà thầy chuyên nghề chỉ… hài cốt, có người may mắn tìm được thân nhân, cũng có những vụ lừa đảo trên hài cốt, gây bao cảnh đau lòng.

Gia đình cha mẹ của Phương Thảo vẫn còn những người trong cuộc để bám hỏi. Nghệ sĩ Khánh cao vẫn nhớ như in cái phút Phương Thảo cất lên tiếng gọi: “Em bị thương rồi!”. Tiếng gọi cuối cùng, thân quen và đau đớn, không bao giờ ông nghe lại lần thứ hai. Cái làng ấy, ông chỉ đi qua một lần vào buổi chiều tối, ông bị thương ở chân, không đi được, phải khiêng qua Dốc Dụng, rồi đêm ấy chia tay mãi.

Một nhân chứng thứ hai là nhà báo Hoài Hà, sau năm 1975, anh về công tác ở Quảng Ngãi, quê anh… Còn một chỗ dựa đáng tin cậy, đó là Đoàn văn công Giải phóng Quảng Đà, nhưng, trong khi tập trung cho chiến dịch lịch sử, có nghe tin, nhưng không mấy ai kịp khóc cho một ngôi sao bỗng tắt trên biền dâu, và, thật đau đớn, trong khi chuẩn bị biểu diễn đón Tết Mậu Thân thì, đoàn văn công gần như bị bom Mỹ xóa sổ.

Trẻ mãi tuổi đôi mươi

Khi gia đình Phương Thảo cử người về quê, về Duy Xuyên, về Xuyên Thanh, Xuyên Lộc, tìm những cán bộ xã, những người bám trụ, thì không gặp được ai biết câu chuyện về một cô văn công hy sinh năm 1967, có vài người nói chỉ nghe mang máng, nhưng chôn ở đâu thì chịu.

Mấy chị em và cháu của Phương Thảo gần như tuyệt vọng, trước khi buồn bã rời Xuyên Thanh, họ ghé vào một cái quầy chữa xe đạp bên đường, gần chợ La Tháp, để vá chiếc lốp xe bị xẹp, thì gặp người “đưa đường chỉ lối” đến nhà ông Văn Ba. Đó là vợ chồng trẻ Nguyễn Thanh Tùng và Huỳnh Thị Chỉnh.

Chị Chỉnh kể: Cái đêm chờ sáng hôm sau bốc mộ không tài nào ngủ được. Vì sao? Sợ sáng mai, đào lên có còn xương cốt gì không. Mấy dì, mấy cậu cũng hồi hộp, lo lắng. Gần như một đêm, cả nhà không ai ngủ. Từ bốn giờ sáng đã có người tập trung quanh mộ rồi. Năm giờ sáng, sau khi đặt lễ, thắp hương vái, thì bắt đầu nhát cuốc di dời.

- Đúng rồi! Một tiếng vang lên từ dưới huyệt.

Mọi người reo lên, thở phào. Mấy dì yên lặng, rồi bỗng ồ lên một tiếng khi nhìn thấy nhiều hạt nút áo, có mấy hạt màu xanh, xung quanh hài cốt có nhiều cát, mọi người ngạc nhiên thì ông Văn Ba giải thích. Và khi nhìn thấy chiếc răng vàng, thì mấy dì òa lên, khóc nức nở.

7 giờ di quan, hôm ấy nhằm ngày mồng 2 tháng 3 năm Ất Hợi, tức là ngày 1/4/1995. Như vậy là, 28 năm sau ngày hy sinh, mới cải táng hài cốt của Phương Thảo về Nghĩa trang liệt sĩ Điện Bàn.

Phương Thảo khai sinh năm Quý Mùi, hy sinh năm Đinh Mùi, nhằm ngày mồng 7 tháng 3, dương lịch là ngày 6/4/1967. Chị chỉ sống được hai con giáp, tròn 24 xuân xanh. Chị mất khi đang yêu và còn đầy trong trắng, duyên nợ chưa thành, nên người đời nghĩ rằng người ấy rất... linh.

Với tinh thần tôn trọng một người con ưu tú của quê hương, một người con gái xinh đẹp, hiếu thảo, dũng cảm và tài hoa, được gia đình phối hợp với Hội Văn học – Nghệ thuật Quảng Nam Đà Nẵng, với Phòng Thương binh xã hội huyện Điện Bàn, Ủy ban nhân dân xã Duy Châu cùng gia đình ông Văn Ba, gia đình anh chị Tùng, nên việc cải táng chị được tổ chức khá chu đáo.

Lễ truy điệu có phát biểu của Trưởng ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, của Chủ tịch Hội Văn học-Nghệ thuật tỉnh, của đại diện gia đình, người thân, có điếu văn, có vòng hoa, có hương trầm nghi ngút… Bà con đến dự trầm trồ, con gái nhà ai mà may mắn quá, chết mấy chục năm sau chiến tranh mới tìm được hài cốt mà lễ nghi như vừa mới mất.

Xây xong mộ, gia đình cảm thấy hài lòng vì đã làm được một việc hệ trọng mà trước khi nhắm mắt mẹ chị vẫn còn trăn trở. Tưởng mồ yên, mả đẹp như vậy là yên. Ai ngờ…

Chuyện diễn ra vào năm 1997. Năm ấy, anh ruột của chị đau nặng, tưởng chừng vô phương cứu chữa, chị Điền vợ anh rất lo, nhiều người cảm nghĩ, không biết dời mộ Phương Thảo có động, hay mẹ xuống dưới ấy có điều gì không bằng lòng.

Một người thân trong gia đình nói với chị Điền, đêm qua, thấy Thảo về, nói rằng, về nghĩa trang thì đông người, nhưng đều là người lạ, muốn xin về lại Duy Châu, nơi ấy có nhiều người quen thân…

Chị Điền thấy lòng không yên, biết nói cùng ai về lời báo mộng ấy? Mấy người bạn thân khuyên nên coi thầy. Thầy bảo: Hài cốt chị ấy về Nghĩa trang liệt sĩ, nhưng hồn chị ấy vẫn còn ở lại nơi chị nằm xuống. Chị Điền hỏi thầy, bây giờ phải làm gì? Thầy nói: Rất đơn giản, chị về làm một cái mộ giả cho chị ấy cư ngụ.

Tin ở sự linh thiêng của Phương Thảo, mong cho chồng qua cơn nguy kịch, chị Điền bí mật làm theo ước vọng của em chồng. Biết nhờ ai thực hiện nguyện vọng này, ngoài vợ chồng anh Tùng?

Người đời làm những bia tưởng niệm, nhà tưởng niệm, đài tưởng niệm, nghĩa trang… chính là vì cái nghĩa, cái tình, là nỗi nhớ, là tình yêu, là nghĩ về linh hồn, là nghĩ về tâm hồn của con người.

Thể xác rồi sẽ mất đi, chỉ có sự nhớ ơn, sùng kính là còn lưu giữ và trân trọng. Khi làm bia tưởng niệm nhà văn Chu Cẩm Phong và các chiến sĩ dũng cảm hy sinh trong trận đánh ngày ấy, là sự thể hiện trái tim và tấm lòng của anh chị em văn nghệ sĩ, của bạn bè, người thân đối với đồng đội của mình và còn muốn người đời sau, qua đây, thấy một bia đá, dừng lại, thắp nén hương, dâng một bó hoa, đặt một câu hỏi…

Từ ý nghĩ đó, đã có lần du thuyền với anh em văn nghệ sĩ ngược sông Thu Bồn, ngang qua làng Thanh Châu, tôi đề xuất với các nhà điêu khắc, các anh nên phác thảo chân dung nghệ sĩ múa Phương Thảo và đồng đội của Đoàn văn công Giải phóng Quảng Đà trên biền dâu xanh, có hồn, sẽ là một tác phẩm nghệ thuật có giá trị, biểu tượng của cái đẹp hiền hòa, sâu thẳm và dữ dội như dòng sông Thu Bồn.

pic
Nhà văn Chu Cẩm Phong

Hồi ở chiến khu, Phương Thảo đã làm cho nhà văn Chu Cẩm Phong lung lay, rạo rực khi họ mới gặp nhau. Thật ra, lúc bấy giờ, chàng trai nào gặp Phương Thảo mà không lung lay, có người lao đao trước sắc đẹp và sự nhí nhảnh, dễ thương của Phương Thảo. Nhưng thời gian họ đi bên nhau, có lúc treo võng nằm gần nhau quá ít, thì…

Chu Cẩm Phong nhớ lại lần chia tay cuối cùng ở trên biền dâu xanh trên bờ sông Thu Bồn. Anh ghi vào nhật ký:

Thứ tư 26/41967:

Từ ngày hôm nay bắt đầu tỉa lúa. Trời buổi nắng buổi mưa, Phương Thảo và chú Khánh vẫn chưa về. Lạ quá! Không lẽ hai người đau? Nếu vậy phải có thư vì Thuyên về trước, chắc có càn gọng, biệt kích gì đây. Sao lại lâu vậy? Ngày ngày đi làm về trông đợi mà không thấy Em về, buồn thật.

Thứ sáu 28/4/1967:

Tim tôi đau nhói, chết điếng người. Mình chưa bao giờ như lần này. Khóc suốt! PHƯƠNG THẢO HY SINH. Lưỡi dao thọc sâu vào tim này, trái tim yêu đương say đắm và sôi nổi.

Kết thúc một chuỗi ngày đêm dằng dặc nhớ thương, mong đợi cái tin sét đánh rụng rời.

Cũng như các buổi chiều khác trước đây, chiều nào mình mang gùi từ ngoài rẫy về với hy vọng trong lòng là người ta sẽ báo cho mình biết tin vui: “Về nhanh đi. Phương Thảo đã về rồi đó!”. Lần đầu mình lấy làm lạ vì sao các anh bên điện ảnh và báo thì có thái độ khang khác với mình, đến khi Cao Duy Thảo báo tin đau buồn đó, lòng mình chết lặng đi. Bước về nhà, âm thầm, quên hết mọi việc.

Mình không còn giấu tình yêu của mình nữa, mình đã khóc. Mình cắn chặt môi cố không bật ra tiếng khóc. Nước mắt cứ đổ ra như suối nóng bỏng mặt mình như hai suối lửa. Anh Vương Linh khóc thút thít. Anh Thế Vinh khóc nấc. Phương Anh cũng sụt sùi.

Trong đêm mình cứ ngồi bó gối rất lâu nhớ lại tất cả, nhớ từng ngày một từ lúc bước chân về, nhớ từng sự việc từng cử chỉ yêu thương, từng câu nói âu yếm. Ôi một con người như vậy lại có thể chết được. Em như một cành hoa. Không ngờ lần chia tay vội vã hôm ở Quảng Đà lại là lần nhìn thấy Em lần cuối, mình sao lại dại dột vậy hôm đó không nấn ná lại nửa giờ nữa hoặc ở thêm môt giờ nữa hoặc thêm một ngày nữa theo yêu cầu của Em?

Lần cuối mình quay lại thấy Em cười gượng, nén một nỗi buồn. Ôi, biết mấy câu chuyện định nói với Em đều chưa nói. Những ý định mong ước đem lại hạnh phúc cho Em, đem lại niềm vui ngày ngày cho Em mình chưa làm được. Bao nhiêu việc còn dang dở. Em hẹn sẽ khâu nền chiếc võng cho mình. Em hứa lần này trở về sẽ đan lại áo len cho mình. Bộ áo quần Em may cho mình Em dặn mặc trong ngày Tết, nhưng mình không mặc, hẹn đợi Em về mình sẽ mặc để Em nhìn, mình sẽ không bao giờ mặc bộ áo quần đó nữa!

Những ý định góp ý để Em sửa chữa và viết lại kịch bản múa cho Em không bao giờ mình thực hiện được. Mấy lâu nay mình làm cật lực để thay phần Em, để đến mùa lúa chín, bắp chín hai đứa cùng đi suốt (hôm ở Quảng Đà Em hẹn về lại cùng đi phát rẫy).

Ôi, tại sao lại tệ vậy, tại sao có những lúc mình từ chối một đề nghị rất nhỏ của Em.

Tôi sẽ ân hận suốt đời!

Còn đâu một tài năng.

Còn đâu những âu yếm dịu dàng.

Ngồi chán trong bóng đêm, nghe mưa rơi. Nghĩ đến thân hình óng ả của Em đang nằm dưới đất, đang thấm ướt những giọt mưa đêm lạnh ngắt kia mà thương vô hạn, bỗng thấy lạnh thấu xương. Đốt đèn đọc lại tất cả thư Em gửi, xem lại ảnh Em, nước mắt lại trào ra.

Em đang nói bên tai đó. Em đang nhìn mình cười đó.

Nhiều lúc mình không tin Em đã chết, mình cho rằng người ta đã lầm, có một sự sơ suất vội vã đánh điện. Em sẽ trở về. Với một vết thương cũng được, dù thế nào Anh cũng sẽ yêu Em suốt đời.

Phương Thảo ơi!

Rồi Chu Cẩm Phong lao vào công việc nặng nhọc, vất vả, đầy hăng say mong hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ anh đảm nhận và cũng để nguôi ngoai nỗi đau không cùng cho đến bốn năm sau, bỗng xuất hiện một người con gái cùng quê và một mối tình mới, một mối tình thật đẹp và lại… dang dở!

Cuộc tình mới diễn ra chưa đầy bốn tháng, họ chia tay đi công tác, đang hẹn hò ngày gặp lại để nên duyên vợ chồng thì phải xáp mặt với quân thù và anh đã chiến đấu đến hơi thở cuối cùng, không kịp nói một lời từ biệt em yêu, dứt tình, ra đi mãi mãi từ buồi xế trưa ngày 1/5/971. Khoảng 10 năm sau, gia đình mới tìm được hài cốt của anh đưa về Nghĩa trang liệt sĩ Hội An, quê anh, nhưng dường như, hồn anh vẫn quanh quẩn với con suối, bờ tre bên cầu Mỹ Lược-Vinh Cường, Duy Tân.

Có lẽ, thấy anh em văn nghệ sĩ làm bia tưởng niệm khắc tên nhà văn Chu Cẩm Phong lên đá hoa cương, thì Phương Thảo không yên, chị nằng nặc, bảo anh chị làm mộ cho mình, nơi chị nằm xuống.

Bây giờ thì, cả hai đều đã có chỗ cư ngụ, ngày ngày đi về trên bờ sông Thu Bồn thân yêu của họ, dạo chơi trên bãi biền dâu xanh, và, có lẽ, họ đã gặp nhau, hẹn hò để trả cho nhau món nợ tình - một khối tình trong như pha lê, không phôi pha, không làm cho người đời ghen tị, trẻ mãi tuổi đôi mươi, tỏa sáng dưới suối vàng…



(*) Hồ Hải Học, Hoài Hà, Nguyễn Hữu Mười.

Bình luận khác
ádasdas
Từ: | Ngày: 08/09/2021 10:35 SA