Lý Tự Trọng trong ký ức những người phụ nữ

Nếu còn sống, người anh hùng Lý Tự Trọng đã ngoài 90 tuổi. Nhưng trong tâm thức người đang sống, anh vẫn trẻ trung ở tuổi 17 đẹp tươi, bởi lời cuối cùng của anh với tiếng gọi “Việt Nam, Việt Nam” mãi đồng vọng đến các thế hệ tuổi trẻ.

Và như mới hôm nào, trên đường phố Sài Gòn, trong cuộc mít tinh kỷ niệm cuộc khởi nghĩa Yên Bái vào chiều ngày 8-2-1931, để bảo vệ cuộc diễn thuyết của chiến sĩ cách mạng Phan Bôi, Lý Tự Trọng lẫn trong dòng người, rút súng bắn chết tên mật thám Legrand. Địch liên tục hỏi cung, đánh đập Lý Tự Trọng rất dã man, nhưng không hề khai thác được gì ở “Ông nhỏ”. Một ngày cuối xuân, thực dân Pháp đưa Lý Tự Trọng từ bót Catinat đến tòa án để kết án anh tội tử hình. Trước vành móng ngựa, “Ông nhỏ” lên án bọn thống trị, kêu gọi nhân dân đứng dậy đấu tranh. Khi luật sư bào chữa, rằng anh còn tuổi vị thành niên, đã “hành động không suy nghĩ”, Lý Tự Trọng dõng dạc nói: “Tôi hành động không phải là không suy nghĩ. Tôi hiểu việc tôi làm. Tôi làm vì mục đích cách mạng. Tôi chưa đến tuổi thành niên thật, nhưng tôi đủ trí khôn để hiểu rằng con đường của thanh niên chỉ có thể là con đường cách mạng và không thể là con đường nào khác. Tôi tin rằng nếu các ông suy nghĩ kỹ thì các ông cũng cần phải giải phóng dân tộc, giải phóng những người cần lao như tôi”. Bị tòa tuyên án tử hình, Lý Tự Trọng vẫn bình thản. Và khi tên thực dân cất tiếng hỏi “có ăn năn gì không”, anh nhìn thẳng về phía trước, kiên định trả lời: “Không ăn năn gì cả!”.

Trong xà lim án chém, anh đã sống những ngày tươi đẹp, vẫn tập thể dục, vẫn đọc Truyện Kiều, vẫn ngâm những câu thơ long lanh tài hoa của Nguyễn Du… Những tên gác ngục, chủ khám rất khâm phục anh, gọi anh là “Ông nhỏ”. Còn đối với các đồng chí, anh được gọi là “Trọng con” đầy tin yêu, trìu mến. Thực dân Pháp nhiều lần lung lạc, dụ dỗ “Trọng con”, chỉ cần anh nói lời đầu hàng sẽ được thả, anh sẽ có được một cuộc sống giàu sang, êm ấm nhưng Lý Tự Trọng vẫn kiên quyết từ chối. Bà André Violis lúc bấy giờ đến Sài Gòn, vào khám thăm Lý Tự Trọng, đã vô cùng kính phục người chiến sĩ cộng sản nhỏ tuổi. Khi về Pháp, bà đã viết một loạt bài và cuốn sách Indochine S.O.S (Đông Dương cấp cứu!) trong đó vạch trần chính sách tàn bạo của đế quốc Pháp ở Đông Dương và phản đối án tử hình đối với Lý Tự Trọng. Nhờ sự dấn thân của bà mà hậu thế biết được phút cuối cùng của Lý Tự Trọng: “Ngày 21.11.1931 thì Huy (tức là Trọng) bị đem xử tử. Sài Gòn hết sức xúc động. Hôm ấy phải ra lệnh thiết quân luật. Từ khám lớn vang ra ngoài đuờng phố, tiếng la hét của tù chính trị. Tiếng thét từ lồng ngực và từ trái tim của họ đã đi theo Huy ra trường chém. Phải điều quân đội và lính cứu hỏa để phun nước đàn áp họ. Trong những tường giam của Khám Lớn đã xảy ra những chuyện như thế. Trước máy chém, Huy định diễn thuyết, song hai tên sen đầm nhảy xô đến không cho anh nói. Người ta chỉ nghe thấy tiếng anh kêu “Việt Nam! Việt Nam!”.

Lý Tự Trọng trong ký ức Bảo Lương Nguyễn Trung Nguyệt

Bởi người cộng sản trẻ tuổi ấy quá đỗi anh hùng, đẹp hơn huyền thoại mà tôi tự hỏi mình: Tại sao một thiếu niên mới 17 tuổi mà cứng cỏi, bản lĩnh đến vậy? Anh đã được hun đúc như thế nào để nhìn thẳng vào mặt kẻ thù, nói những lời gang thép, trí tuệ như thế! Thật tình cờ, khi đến Quảng Châu tìm lại bóng dáng Bảo Lương Nguyễn Trung Nguyệt - người phụ nữ Nam bộ cải nam trang trốn xuống tàu, sang Quảng Châu học khóa huấn luyện chính trị năm 1926 do đồng chí Nguyễn Ái Quốc tổ chức, người con gái tiền phong, đặt những viên gạch đầu tiên xây dựng Hội phụ nữ giải phóng ở Nam bộ, tôi mới biết thêm những ngày Lý Tự Trọng ở Quảng Châu.

Thật may mắn khi ở Quảng Châu ngày nay vẫn còn ngôi nhà số 250 phố Văn Minh (xưa là số 13) - trụ sở tổ chức Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội (VNTNCMĐCH). Đó cũng là nơi tập trung rất nhiều nhà cách mạng tiền bối tài năng của Việt Nam, được Bác Hồ huấn luyện, đào tạo. Trên tường, tên những học trò đầu tiên của Nguyễn Ái Quốc được ghi trang trọng. Tôi đứng lặng trước căn phòng Bác Hồ từng lưu lại. Trong phòng chỉ có chiếc giường gỗ đơn sơ, bàn làm việc với máy đánh chữ rất cổ. Tôi đi qua từng căn phòng trong nhà lưu niệm. Phòng học của học viên lớp huấn luyện chính trị cho thanh niên Việt Nam có lẽ là căn phòng đẹp nhất. Đời sống học viên năm ấy rất gian khổ. Mỗi người chỉ có một chiếc chiếu cói, một chăn mỏng trải qua mùa đông khắc nghiệt ở Quảng Châu. Nhưng những tài liệu về nông dân, phụ nữ, thiếu niên… mà những nhà cách mạng năm ấy đã nghiên cứu, học hỏi vẫn còn lưu lại trên giá sách bằng mây. Thật xúc động khi đứng trước căn phòng nhỏ, hẹp, đồ vật được bày trí đơn sơ nhưng là nơi phát tích tờ báo Thanh Niên - đặc san của tổ chức Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội (VNTNCMĐCH). Chính tại căn phòng này, đồng chí Nguyễn Ái Quốc chủ trì việc biên tập, ấn loát, phát hành số báo đầu tiên, huấn luyện cho các học viên làm báo. Bảo Lương Nguyễn Trung Nguyệt - một phụ nữ được giao phụ trách mục phụ nữ đã viết những bài báo kêu gọi phụ nữ thức tỉnh, vững lòng đấu tranh cho độc lập tự do của Tổ quốc…

Cuộc sống của những hội viên VNTNCMĐCH năm ấy vô cùng khó khăn. Trên sân thượng tầng 3 ngôi nhà lưu niệm còn những hiện vật ghi dấu những ngày gian khổ năm xưa. Năm ấy, Lý Tự Trọng từ Thái Lan được đưa sang Trung Quốc học tập, hoạt động trong tổ chức VNTNCMĐCH, đã từng sống chung với Bảo Lương Nguyễn Trung Nguyệt, được đồng chí Lý Thụy (tức Chủ tịch Hồ Chí Minh) rất yêu thương. Tên Lý Tự Trọng là do Người đặt. Năm ấy, đồng chí Lý Thụy rất chú trọng công tác đào tạo khả năng diễn thuyết của các hội viên, tổ chức các lớp học.

Hôm ấy có nhiều đồng chí lên diễn thuyết, mở đầu là Lâm Đức Thụ (Trương Béo), rồi Lê Hồng Phong, Hồ Tùng Mậu, Lý Ứng Thuận, Quang- quân nhân trường Hoàng Phố… Tất cả đều diễn thuyết hay, mỗi người mỗi vẻ, rất thuyết phục. Tuy nhiên, với Bảo Lương, cách diễn thuyết của cậu bé Lý Tự Trọng vô cùng đặc biệt: Em cũng giống các bạn lớn, nghĩa là không có giấy, em hướng mặt cúi chào thính giả, cái bộ trịnh trọng chững chạc gây phần nào tin tưởng. Bé nói: “Trách nhiệm thiếu nhi đối với cách mạng”: Chúng em dù trong tuổi học hành, vẫn cố gắng làm các công tác theo sức mình, để bồi đắp, củng cố nền cách mạng. Xin các đồng chí tiến bước để chúng em theo, chúng em theo sát gót đàn anh dầu bé bỏng cũng nguyện hy sinh chống thực dân bảo toàn đất nước”. Lời nói đó sau này mới chứng tỏ cho hào khí thiếu niên thời nước loạn.

Ở ngôi nhà số 13 phố Văn Minh, sau những khóa học, làm báo Thanh Niên, lúc rảnh rỗi, cậu bé Trọng cùng chị đùa giỡn. Chị rất cưng Trọng nhưng cũng đòi “vả tét mép” khi cậu em đùa quá trớn, nhất là lúc cậu bạo gan ghép đôi chị cho các anh. Bảo Lương nhận ra bé Trọng có những lúc rất người lớn, già dặn, lại rất tình cảm: “Trọng rủ tôi lên sân thượng tập thể thao thật sớm vì em và Thuận, Thông con còn phải kịp giờ đi học- lúc ngồi ngoài băng, mắt Trọng thoáng buồn, em nói: “Trọng nhớ một người … nếu người đó còn ở đây thì …”. “Người đó là ai? Ba của Trọng hả?”. “Người đó mang Trọng sang đây mà! Là đồng chí Vương, là Vương Sơn Nhi, là Nguyễn Ái Quốc, chị gặp là chị thương liền. Hồi Thuận, Châu, Nhuận sang thì đồng chí Vương còn ở đây, Vương thấy anh em mới qua chưa quen lạnh, phần muốn để mấy anh có thì giờ học, anh xung phong làm công việc nhà thay thế, nấu cơm giặt đồ, cả những tỉ mỉ anh đều thu xếp gọn, anh em thấy vậy đều cảm kích, không dè cái người nấu bếp lo ăn cho mình, coi phơi từ cái áo lạnh cho anh em, mà đến khi nghiên cứu huấn luyện lại tỏ ra thông minh rành rẽ”.
Tuy khôn ngoan, già dặn hơn những đứa trẻ cùng lứa nhưng Trọng cũng là một cậu bé con thích được âu yếm, chiều chuộng, nhất là lúc ốm đau: “Chị Lương ơi! Ẵm Trọng!”. Thuận cười to nói: “Đó, Lương thấy Thuận nói trúng phóc chưa? Hễ cưng là nó vòi đủ thứ, động đau một tí thì la hoảng đòi ăn ‘thị’ luôn miệng!”. Tôi dìu Trọng xuống cầu xong lên trùm mền cho nó sau khi uống thuốc, ngồi bên bé lòng tôi buồn vô hạn! Cái tuổi của Trọng là tuổi chơi thả diều, bên cha mẹ vòi quà nũng nịu khi váng mình sốt mẩy, ở với đoàn thể dầu sao cũng tương đối chừng mực thôi! Đức cũng săn sóc, chị Thụ cũng chích thuốc, Thuận cũng đút cháo, nhưng đó làm bổn phận một cách khô khan. “Chị Lương ơi! Đỡ Trọng với!”. Tôi ôm đỡ đầu nó lên vai, vừa ngồi yên thì nó thủ thỉ: “Có hào chỉ hôn chị Lương?”. “Chi vậy?”. “Xí mụi nè, cánh chỉ, thị nè! Chị mua liền nhé!”.

Thương Trọng thèm thị, Bảo Lương rất khổ tâm khi không còn tiền. Cho đến khi mùa đông đến, Bảo Lương không chịu nổi giá lạnh, rét buốt nơi đất khách, sốt cao, người ướt đẫm. Một bên ngực Bảo Lương bị sưng, phải đi mổ ở bệnh viện. Tổ chức chỉ có đủ “hai hào chỉ” cho “Cậu nhỏ” đưa chị Bảo Lương đi chữa bệnh. Biết Lý Tự Trọng rất mê ăn trái thị, Bảo Lương đã nghĩ ra cách lúc trời còn mát hai chị em sẽ đi bộ đến bệnh viện. Bảo Lương dành số tiền đi xe để mua trái thị cho “Cậu nhỏ”. Và đây là hồi ức đầy cảm động của bà: “Khi lên xe là có thị cho Trọng cầm, mà tại sao nó chưa chịu cắn nhai như mỗi lần vô lớp? Tôi ngó lên thấy vẻ suy tư trong mắt nó, tôi giục: “Ăn đi”. “Trọng không ăn thị nữa… Chị Lương ăn thị đi, thị bổ lắm. Ăn cho có sức mà chịu đựng, chứ mổ đau lắm, mà hễ chết là đói bụng và thèm thị!. “Không. Chị không ăn, cho em hết đó!”. “Chị Lương không ăn hả? Trọng không ăn luôn và Trọng buồn! Phải chi đừng mua để chị đừng đi bộ!”. Trọn năm ngày đi nhà thương băng bó, là năm ngày hồi hộp khổ tâm! Vì Trọng luôn luôn lên diễn đàn lưu động, tôi ngồi chờ ở băng sau mà nóng nảy bồn chồn, nghe tiếng Trọng càng hùng hồn tôi càng lo sợ tiếng súng sát nhơn bùng nổ. Và siết bao mừng rỡ khi bé chạy ùa lại nắm tay tôi dìu đi. Tôi muốn biểu Trọng đừng nói, mà mở miệng chẳng ra lời…”.

Nỗi lo sợ của Bảo Lương Nguyễn Trung Nguyệt về sự an nguy của Lý Tự Trọng đã diễn ra vào buổi chiều mùa xuân năm 1931: “Quả vậy, khi bé được 16 tuổi về nước, làm cách mạng, bước đầu đã nổ súng làm chết cò thực dân tên Legrand, lúc bị bắt đến khi lên “đoạn đầu đài”, Pháp đành bó tay trước gan lì của Trọng; không có cực hình nào mà thực dân không dùng để biết thêm người trong tổ chức, nhưng vô hiệu! Vì Trọng đáp lời của Pháp: “Tôi làm cách mạng cho tôi! Với tôi! Và tôi bảo giết tên hại nước hại dân tôi”. Bản thân Bảo Lương Nguyễn Trung Nguyệt, năm 1928, từ Quảng Châu trở về nước trên một chuyến tàu bí mật. Bà công tác vận động xây dựng Hội phụ nữ Giải phóng tại Nam Bộ, rồi sa vào tay địch trong vụ án ở đường Barbier (năm 1954 đổi tên đường Lý Trần Quán nay là Thạch Thị Thanh), bị kêu án 10 năm tù. Trong khám lạnh, Bảo Lương tự nhủ phải kiên cường đối mặt với những ngón đòn tra tấn dã man, xứng đáng với “bé Trọng” anh hùng.

Lý Tự Trọng trong ký ức cựu nữ tù - Bà mẹ VNAH Thái Thị Nhạn

Bà Thái Thị Nhạn, cựu tù Khám Lớn Sài Gòn, cựu tù Côn Đảo. Bà sinh năm 1906, được kết nạp Đảng từ năm 1930, đã mất vào năm 2003.

Năm 1930, bà Thái Thị Nhạn hoạt động xây dựng cơ sở cách mạng ở Phong Điền, Cần Thơ bị bắt, bị đưa lên giam ở Khám Lớn Sài Gòn. Bà bị kết án 5 năm tù. Tấm gương Lý Tự Trọng trở thành bài học sâu sắc trong cuộc đời bà. Bà kể trong hồi ký: “…Trong thời gian tôi ở Khám Lớn, có vụ án Lý Tự Trọng là lớn nhất. Nó thành dấu ấn trong tâm hồn tôi và nhắc nhở tôi suốt cả đời mình. Tôi còn nhớ rõ, lúc ấy là tháng 11 năm 1931. Những người bị án tử hình bao giờ cũng bị nhốt riêng, cơm hằng ngày đưa qua một cái lỗ nhỏ. Người đưa cơm gọi là thằng Dớ. Có lẽ anh ta là người Miên nên nói chuyện hay dùng chữ “dớ…”. Thằng Dớ không dám mặc quần áo khi đưa cơm vì nó sợ tù tử hình nắm được quần áo nó rồi bẻ cổ nó. Theo chế độ đối xử với tù lúc ấy, tù tử hình muốn ăn gì chúng cũng cho. Theo chúng, đó là nhân đạo, cho ăn để rồi chết. Lý Tự Trọng lúc đó còn có tên là Huy. Huy ăn ít, nhưng thường đòi nhiều, mục đích là tìm cách gởi qua phòng phụ nữ cho các chị đau ốm và các cháu nhỏ. Cho tới một hôm, chúng tôi biết là ngày mai Huy sẽ bị xử tử. Trước đó mấy lần, khi thấy tên Tây què xuất hiện là chị em đều cho Huy hay nhưng Huy chỉ cười và nói:

- Chưa tới em đâu, chị.

Và hôm nay, khi thấy tên Tây què xuất hiện- vì thằng này giữ và điều khiển máy chém - kèm theo cái tin anh thợ sửa đèn cho hay, chúng tôi leo lên song sắt báo cho Huy. Lần này Huy cũng cười, nhưng nói:

- Bữa nay tới em rồi đó mấy chị. Mấy chị ở lại mạnh giỏi, ráng cố gắng…

Nghe Huy nói vậy, chị em ai cũng khóc. Chị em liền dùng morse báo tin cho anh em hay để chuẩn bị cho cuộc đấu tranh hoàn toàn có tính cách chính trị. Một đồng chí của mình sắp bị chúng hành hình, điều ấy như lửa đốt trong lòng chúng tôi. Cả ngày hôm đó, đầu óc chúng tôi căng thẳng. Các anh phân công trại nữ chúng tôi canh chừng vì khám phụ nữ và khám tử hình gần nhau. Việc chuẩn bị đã xong, chúng tôi tổ chức phiên gác suốt đêm hôm ấy.

Cửa phòng ở Khám Lớn Sài Gòn là cửa sắt bít bùng. Chúng chỉ khoét mỗi cánh mấy lỗ tròn bằng ngón tay để khi gác bên ngoài chúng có thể nhìn vào quan sát bên trong. Đêm ấy, từ lúc 4 giờ sáng, chúng tôi đã nhìn ra bên ngoài bằng những lỗ ấy. Cứ hết người này, đến người khác thay phiên nhau quan sát, theo dõi tình hình. Cả phòng chúng tôi không ai ngủ được. Các anh bên khám nam cũng đang thức trước giờ sắp hy sinh của một đồng chí can trường. Các anh cứ liên tiếp đánh morse sang phòng nữ hỏi tình hình và cũng đang canh chừng từ phía trên lầu ngó xuống. Khoảng gần 5 giờ sáng, không gian đang yên tĩnh bỗng nổi lên những tiếng xe gầm rú, tiếng động của sắt thép va chạm nhau làm ai nấy cứ nhìn nhau tự hỏi không biết bên ngoài chuyện gì đã xảy ra. Sau này chúng tôi mới biết lúc đó giặc Pháp chở cái máy chém đến dựng trước cửa khám đường). Đúng 5 giờ, chúng tôi nghe những bước chân rầm rập, gấp gáp. Chúng đã đưa Lý Tự Trọng ra. Bỗng có tiếng hô từ bên ngoài vọng vào. Đó là tiếng của Lý Tự Trọng đã dõng dạc hô to những khẩu hiệu:

- Đả đảo đế quốc Pháp!

- Việt Nam độc lập muôn năm!

Và hưởng ứng những lời bất khuất ấy của người chiến sĩ cách mạng Lý Tự Trọng, không ai bảo ai, chúng tôi đồng loạt hô to những khẩu hiệu:

- Phản đối xử Lý Tự Trọng!

- Đả đảo đế quốc Pháp!

- Đả đảo khủng bố trắng.

Tiếng la vang dậy một góc thành phố Sài Gòn. Tiếng la vang động đến những tấm lòng của nhân dân yêu nước. Tiếng la làm thức tỉnh lương tri của những người đang làm tay sai cho giặc, đàn áp đồng bào. Tiếng la vang động như những tiếng thét uất hận bùng lên, bùng lên mãi. Chị em dưới lầu, anh em trên lầu, bằng tất cả sự công phẫn tột độ, đã nói lên tiếng nói của trái tim, của tấm lòng mình đối với Tổ quốc, đối với cách mạng và đối với sự hy sinh anh dũng của Lý Tự Trọng.

Riêng tôi, tự nhiên thấy mình quỵ xuống, nước mắt tôi bỗng chảy dài khi nghĩ chính lúc ấy, ngoài kia, Huy đã gục xuống bởi lưỡi dao của chiếc máy chém bạo tàn và Huy thật sự đã ra đi, ra đi một cách thanh thản, nhẹ nhàng và trong trắng. Bên tai tôi chừng như còn văng vẳng tiếng của Huy:

- Mấy chị ở lại mạnh giỏi, ráng cố gắng…

Tiếng la ó, những khẩu hiệu phản đối vẫn vang vang, từng chập nổi lên. Chị em bây giờ mới bàn nhau cùng cất tiếng hát.

“Hỡi ai cực khổ trên đời

Hỡi ai cực khổ trên đời đứng lên…”

Tiếng vỗ tay rầm rập làm nhịp cho câu hát. Và chính lúc ấy câu nói của Huy lại vang đến tai tôi: “Bữa nay tới em đó, các chị. Các chị ở lại mạnh giỏi, ráng cố gắng…”

Người cộng sản trẻ tuổi ấy ra đi một cách hồn nhiên và tự tin. Vì người ấy đã đặt tất cả lòng tin hoàn toàn vào Đảng, vào sự thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

Sáng hôm sau, bọn cai tù đem còng tới còng tất cả hai tay của chúng tôi không cho vỗ tay nữa. Không vỗ tay được thì thì cứ tiếp tục hát và chúng tôi đã hát suốt đêm. Và đêm ấy, chờn vờn trước mắt tôi là hình ảnh của Huy, như một đôi cánh trắng đang vẫy gọi”.

Sau ngày hòa bình, khi gặp chúng tôi, bà Thái Thị Nhạn luôn nhắc đến tấm gương người anh hùng trẻ tuổi Lý Tự Trọng. Bà nói tấm gương ấy với bà là bài học cách mạng vô giá, vượt lên mọi lý luận, những lời hứa hẹn, giáo huấn. Bà chân thành nói: “Bây giờ nhìn lại, tính từ ngày giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, tôi có 47 năm được tham gia cách mạng, trong đó có gần 20 năm ngồi tù, bốn lần bị bắt, bốn đợt tra tấn khác nhau, thời Pháp và thời Mỹ, nhưng không bao giờ tôi quên được câu nói hết sức hồn nhiên và trong sáng của người Đảng viên Cộng sản trẻ tuổi Lý Tự Trọng, mà khi chúng tôi quen nhau đã gọi bằng cái tên thân mật- em Huy. Huy đã nói với chúng tôi khi biết mình sắp lên máy chém: “Các chị ơi, bữa nay tới em đó. Bữa nay tới em...”. Rồi Huy nói tiếp, giọng thản nhiên: “Mấy chị ở lại, ráng cố gắng...”. Gương mặt non trẻ, giọng nói đầy tin tưởng và yêu đời bất chấp cái chết của Huy, lúc nào cũng phảng phất bên tôi… Huy chính là bài học của tôi. Một bài học cho một cuộc đời...”.

Bài học ấy còn được viết lên bằng chính máu của những người thân yêu của bà. Chồng và con trai bà đã ngã xuống cho ngày hòa bình, thống nhất. Thế hệ hôm nay và mai sau khi giở lại những trang lịch sử thành phố anh hùng, chúng ta có quyền tự hào về tuổi 17 tươi đẹp của Lý Tự Trọng, về những người tù Khám Lớn Sài Gòn như Bảo Lương Nguyễn Trung Nguyệt, Thái Thị Nhạn. Tên của những người anh hùng, kiên trung, bất khuất ấy thật vinh dự khi được đặt cho những con đường ở thành phố: đường Lý Tự Trọng ở Quận 1, đường Nguyễn Trung Nguyệt ở Quận 2 và đường Thái Thị Nhạn ở Quận Tân Bình.