Lời kể của một nhân chứng ngày 30/4/1975

H.V: Kiến trúc sư Nguyễn Hữu Thái đã từng là Chủ tịch Tổng hội sinh viên Sài Gòn (hợp pháp, năm 1963-1964), và sau đó ông đã tham gia phong trào đấu tranh của Mặt trận Giải phóng miền Nam. Ngày 30/4/1975, cùng với nhiều trí thức khác hoạt động trong phong trào (như TS Huỳnh Văn Tòng, nhà báo Cung Văn - Nguyễn Vạn Hồng, họa sĩ Ớt - Huỳnh Bá Thành…), ông đã chứng kiến những giây phút lịch sử trọng đại và trở thành nhân chứng của ngày hôm ấy. Chúng tôi xin giới thiệu một đoạn hồi ức của ông, như một sự bổ sung cho ghi nhận của nhiều nhà báo trong và ngoài nước, của nhiều nhân chứng đến từ những cương vị khác nhau trong cuộc chiến.

…Chúng tôi đang loay hoay thì bỗng mọi người cùng hướng nhìn về đại lộ Thống Nhất. Một cảnh tượng hùng tráng diễn ra: một đoàn xe tăng rầm rộ tiến về hướng dinh. Bỗng chốc cửa dinh bị húc đổ, đoàn tăng cày lên thảm cỏ, tiến thẳng đến thềm dinh. Một anh bộ đội xe tăng, sau này tôi mới biết là Bùi Quang Thận, giật chiếc cần ăng-ten có gắn lá cờ Giải phóng xanh đỏ hình tam giác tả tơi, nhuốm màu lửa đạn và bụi đường, leo xuống xe chạy vội vào dinh.

Tôi đang đứng trên tiền sảnh dinh lúc bộ đội xe tăng triển khai đội hình. Có lẽ nhìn thấy chúng tôi đeo băng xanh đỏ của lực lượng quần chúng nổi dậy, nên khi tôi đề nghị dẫn đường thì Thận liền đi theo chúng tôi. Bản thân tôi không rành bố cục bên trong dinh và cũng chưa biết dùng thang máy nào để lên nóc dinh. Có một người mặc thường phục đi qua, tôi không nhớ là ai, tôi yêu cầu anh dẫn chúng tôi đến thang máy phụ. Tôi giúp anh Thận bẻ gập chiếc cần ăng- ten, mới vào lọt được bên trong chiếc thang máy loại nhỏ này. Đến nóc, chúng tôi còn phải leo thêm chiếc thang gỗ mới đến được chân cột cờ. Phải hạ lá cờ Sài Gòn xuống, cờ quá lớn lại cột dây ni-lông. Chúng tôi phải mất cả mấy phút mới giật nổi nó xuống và kéo lá cờ Giải phóng lên trong tiếng reo hò lẫn tiếng súng chỉ thiên vang trời.

Tất cả chúng tôi không cầm được nước mắt, vừa sung sướng vừa hãnh diện. Vào giây phút này, chắc nhân dân cả nước đang reo mừng. Sài Gòn đã được giải phóng, hòa bình được lập lại, dân tộc này từ nay trở lại thống nhất làm một, không gì còn có thể chia cắt được.

Nay tôi không còn nhớ mình đã xuống được sân dinh bằng cách nào. Công tác chính là sớm sử dụng Đài phát thanh Sài Gòn mà chúng tôi vẫn chưa làm xong. Phải ra ngay đài phát thanh. Chính ủy đoàn xe tăng tiến vào dinh Độc Lập trước tiên là Bùi Văn Tùng, sau này thổ lộ: Ông nghĩ phải tìm mọi cách đưa được tướng Minh ra đài phát thanh tuyên bố đầu hàng thì sẽ có tác dụng lớn rút ngắn cuộc chiến. Tuy biết là nguy hiểm, song ông vẫn quyết làm. Tôi tháp tùng xe của chính ủy Bùi Văn Tùng cùng các nhà báo Tây Đức Von Boric Gallasch và Hà Huy Đĩnh đưa Tổng thống Dương Văn Minh, Thủ tướng Vũ Văn Mẫu và Tổng trưởng Thông tin Lý Quý Chung ra đài phát thanh.

Anh em sinh viên đã cùng bộ đội chiếm giữ đài rồi, nhưng không vận hành được cũng như không biết phát đi nội dung gì. Nhà báo Đức cho mượn chiếc cát-sét thu lời đầu hàng của tướng Minh và lời chấp nhận đầu hàng của chính ủy Tùng. Tướng Minh nhìn thấy tôi trong đám người này có vẻ cũng yên lòng. Trông ông mệt mỏi và không mấy vui. Thân hình ông vẫn to lớn nhưng mặt ông hơi hốc hác.

Dẫu sao, ông cũng đã hy sinh danh dự của một tướng lãnh (dẫu cho là một tướng bại trận) để thực sự cứu thành phố này khỏi cảnh tàn phá và đổ nát. Sau này tôi mới biết là ông và bộ Tham mưu từ mấy ngày qua đã quyết định đầu hàng dẫu có bị đối xử không tương xứng của phía đối nghịch. Đó cũng là một hành động can đảm và đáng ca ngợi của một Phật tử vào cuối đời.

Có lẽ, ông chưa bao giờ thành công trong hoạt động chính trị. Ông chỉ là nhân vật cần thiết của tình thế nhưng không nắm được quyền lâu dài. Vào năm 1963, không ai ngoài ông trong số tướng lãnh đủ uy tín đứng ra lãnh đạo cuộc đảo chính lật đổ Tổng thống Ngô Đình Diệm. Lần này, có lẽ chính quyền Sài Gòn cũng không còn con bài nào khác để chấm dứt cuộc chiến một cách êm thấm. Ít ra, ông còn giữ được nguyên vẹn Sài Gòn và phần còn lại của miền Nam tránh khỏi đổ nát và đổ máu thêm một cách vô ích.

Tôi nhìn sang Giáo sư Vũ Văn Mẫu, ông có vẻ bình thản trong bộ com-lê luôn chỉnh tề của một nhà giáo. Khi còn học khoa luật, tôi rất thích lối giảng các bài pháp chế sử, mạch lạc, hùng biện và cả hóm hỉnh. Tuy xuất thân trong gia đình quan lại miền Bắc và di cư vào Nam năm 1954; vào năm 1963, khi đang giữ chức vụ Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, ông dám can đảm từ nhiệm và tự cạo trọc đầu phản kháng Ngô Đình Diệm đàn áp Phật giáo. Nay ra lãnh chức vụ Thủ tướng tôi nghĩ ông không có ước mong gì khác hơn là đem lại hòa bình, hòa hợp hòa giải thật sự cho dân tộc.

Trong số những người chủ chốt xung quanh tướng Minh, phải kể đến vai trò của luật sư Nguyễn Văn Huyền, giữ chức Phó Tổng thống. Ông là một chính khách Công giáo người miền Nam ôn hòa và có tư cách, đại diện được cho tiếng nói của giáo hội Công giáo bên cạnh những Phật tử như Dương Văn Minh, Vũ Văn Mẫu.

Vào lúc này mới thấy anh em sinh viên của nhóm chúng tôi là cần thiết. Chính họ dẫn đường bộ đội đến khu phát thanh - truyền hình, vào tận cổng dinh Độc Lập. Ở đài phát thanh, họ chạy đi tìm pin thay thế cho máy cát-sét, đi tìm kỹ thuật viên cho đài phát sóng lại. Tất cả đều nhờ anh em sinh viên lo liệu. Chính ủy Tùng xác nhận: “Không có các cậu sinh viên giúp tìm pin cho máy cát-sét, tìm được nhân viên đài đến phát đi lời đầu hàng của tướng Dương Văn Minh thì thật là gay go…”. Chúng tôi tìm được anh Trần Văn Bảng, kỹ thuật viên phát sóng trú ngụ gần đấy. Anh còn lên tiếng gọi thêm mấy người khác đến giúp vận hành đài.

Về nội dung bản tuyên bố đầu hàng, tôi nhìn thấy giữa tướng Minh và chính ủy Tùng có lời qua tiếng lại. Hình như tướng Minh không muốn nêu chữ “tổng thống” mà dùng tiếng “đại tướng” quen thuộc hơn. Ông Tùng cương quyết không chịu vì cho rằng dẫu sao thì tướng Minh cũng đã làm Tổng thống cuối cùng của chính quyền Sài Gòn, nay phải tuyên bố với tư cách đó mới ra lệnh được cho cả bên dân sự lẫn quân sự. Thu băng thử đi thử lại mấy lần mới xong. Lời phát biểu của Thủ tướng Mẫu thì ông được nói trực tiếp.


Đoàn xe tăng tiến về hướng dinh Độc Lập. Ảnh TL.

Loay hoay đến gần hai giờ chiều (giờ Sài Gòn lúc đó, trễ hơn hiện nay một giờ) chúng tôi mới phát đi được tiếng nói Cách mạng đầu tiên trên Đài phát thanh Sài Gòn. Nguyên văn tiếng nói mở đầu của tôi:

“Chúng tôi là những người đại diện cho Ủy ban nhân dân Cách mạng Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định. Chúng tôi là những người đầu tiên tới dinh Độc Lập trước 12 giờ và đã cùng anh em quân đội giải phóng cắm cờ trên dinh Độc Lập. Chúng tôi là giáo sư Huỳnh Văn Tòng và cựu Chủ tịch Tổng hội sinh viên Sài Gòn Nguyễn Hữu Thái. Đời sống bình thường đã trở lại Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh, thành phố mà Bác Hồ đã mong đợi, nay đã được giải phóng. Xin giới thiệu lời kêu gọi của các ông Dương Văn Minh và Vũ Văn Mẫu của chính quyền Sài Gòn về vấn đề đầu hàng ở thành phố này…”.

Tiếp theo là lời của tướng Dương Văn Minh:

“Tôi, Dương Văn Minh, Tổng thống chính quyền Sài Gòn, kêu gọi Quân lực Việt Nam Cộng hòa hạ vũ khí đầu hàng không điều kiện quân Giải phóng Miền Nam Việt Nam. Tôi tuyên bố chính quyền Sài Gòn từ Trung ương đến địa phương phải giải tán hoàn toàn. Từ Trung ương đến địa phương trao lại cho Chính phủ Cách mạng Lâm thời Miền Nam Việt Nam”.

Và lời chính ủy Bùi Văn Tùng:

“Chúng tôi đại diện lực lượng quân Giải phóng Miền Nam Việt Nam long trọng tuyên bố Thành phố Sài Gòn đã được giải phóng hoàn toàn, chấp nhận sự đầu hàng không điều kiện của ông Dương Văn Minh - Tổng thống chính quyền Sài Gòn”.

Cuối cùng là lời Giáo sư Vũ Văn Mẫu:

“Trong tinh thần hòa giải và hòa hợp dân tộc, tôi, Giáo sư Vũ Văn Mẫu, Thủ tướng, kêu gọi tất cả các tầng lớp đồng bào hãy vui vẻ chào mừng ngày hòa bình của dân tộc, và trở lại sinh hoạt bình thường. Chuyên viên của các cơ quan hành chính quay trở về vị trí cũ dưới sự hướng dẫn của chính quyền cách mạng”.

Và tôi tiếp tục nói: “… Quân Giải phóng đã tiến vào dinh Độc Lập và đã làm chủ hoàn toàn các điểm chốt quân sự cũng như dân sự của vùng Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định…”.

Phải chăng những khoảnh khắc, những tuyên bố đó đã chấn động lòng người, làm nước mắt trào ra từ nhiều đường rừng, mặt trận. Người ta mừng rỡ, hồi hộp và lắng nghe từ xa.

Bộ đội đưa đoàn tướng Minh về lại dinh Độc Lập. Tôi đích thân đứng ra điều hành buổi phát thanh ấy, đọc thêm bản công bố của Cách mạng đối với vùng mới giải phóng, mượn của một chính trị viên. Tôi cố tình xưng tên tuổi mình cùng Giáo sư Huỳnh Văn Tòng là nhắm tạo tâm lý trấn an nhân dân Sài Gòn.

Thấy trong đám đông ùa đến đài có nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, anh em đưa anh vào và cùng anh hát vang bài Nối vòng tay lớn. Không có đàn trống, chúng tôi vỗ tay, gõ nhịp lên bàn cùng nhau hát vang:

Rừng núi dang tay nối lại biển xa
Ta đi vòng tay lớn mãi để nối sơn hà
Mặt đất bao la anh em ta về
Gặp nhau mừng như bão cát quay cuồng
Trời rộng bàn tay ta nắm nối tròn một vòng Việt Nam
……………
Từ Bắc vô Nam nối liền nắm tay
Ta đi từ đồng hoang vu vượt hết núi đồi
Vượt thác cheo leo tay ta vượt đèo
Từ quê nghèo lên phố lớn
Nắm tay nối liền biển xanh sông gấm nối liền một vòng tử sinh.

Bài hát ra đời từ năm 1968 nói lên giấc mơ của dân tộc nay mới trở thành hiện thực. Đây là bài hát đầu tiên được phát trên sóng của Đài phát thanh Sài Gòn vào ngày giải phóng. Vậy là phải 18 năm sau tôi mới gặp lại bạn học cũ ở Huế là nhạc sĩ Trịnh Công Sơn. Gặp lại nhau trong ngày trọng đại thống nhất đất nước này! Đến chiều tối chúng tôi mới giao được đài lại cho bộ phận phát thanh Giải Phóng.

Riêng tôi không ở lại đài đến cuối phần phát thanh vì anh Lê Công Giàu, cán bộ Thành Đoàn của Mặt trận Giải Phóng xuống mời tôi lên gặp ban chỉ huy tiếp quản Sài Gòn đang đóng quân ở trường Pétrus Ký (Lê Hồng Phong ngày nay). Họ muốn gặp tôi bàn bạc kế hoạch tập hợp thanh niên sinh viên học sinh Sài Gòn vào sáng ngày mai 1/5. Tôi quen mặt hầu hết các cán bộ Đoàn đang có mặt ở đó nguyên là học sinh sinh viên Sài Gòn, nay rắn rỏi trong quân phục quân giải phóng. Những người đã cùng tôi xuống đường đấu tranh từ 10 năm qua.

Tôi được giới thiệu gặp một người lớn tuổi, cao to, nét mặt rắn rỏi, giọng nói còn sang sảng là ông Mai Chí Thọ, một nhân vật huyền thoại lãnh đạo cuộc chiến đấu quanh vùng Sài Gòn - Gia Định từ thời kháng Pháp đến chống Mỹ. Ông khen ngợi việc sử dụng đài phát thanh phát đi tiếng nói Cách mạng, chỉ tiếc không có được nhiều tiếng nói tiêu biểu hơn của bên lao động như ông Chủ tịch Nghiệp đoàn Lê Văn Thốt chẳng hạn. Ngày mai phải làm sao quy tụ thật đông đảo thanh niên học sinh sinh viên đến trụ sở số 4 Duy Tân.

Cả đêm 30/4 đó chúng tôi đâu có ngủ. Không phải vì những thao thức về thân phận, toan tính đối phó với kẻ thù mà suy nghĩ về một ngày mai, vì rõ ràng là từ nay ta đã thực sự làm chủ vận mệnh mình.