Mùa xuân qua cầu sông Cái

Sáng mồng Hai, tôi cùng giáo sư Mỹ D.Jardine xuất hành qua cầu sông Cái. Người Hà Nội trước đây không gọi tên chữ sông Hồng, sông Nhĩ Hà, mà gọi nôm na là sông Cái. Cầu sông Cái là cầu Doumer (Đume) xưa, nay là cầu Long Biên.

Ngày Tết, người qua lại thưa thớt. Ở chốn đô thị đông đúc, ít khi được hưởng một cảnh yên tĩnh như vậy. Một bức tranh thủy mặc: mênh mông trên trời dưới nước, hai bên bờ phố xá và làng mạc im lìm dưới màn sương. Mưa xuân lớt phớt. Tôi bảo anh bạn: “Đối với người Hà Nội, Tết mà thiếu một ít mưa xuân thì chưa toàn vẹn không khí Tết”. Anh bạn gật gù: “Cũng như ở phương Tây, lễ Noel không có tuyết thì mất chút ít ấm cùng gia đình”.


Những cư dân xóm đò. Ảnh Trần Huấn.

Chúng tôi thủng thẳng vừa đi vừa nói chuyện. Câu chuyện xoay quanh chiếc cầu vì anh Jardine rất thích tìm hiểu lịch sử - văn hóa Việt Nam và đặc biệt là nghiên cứu về cầu Doumer - Long Biên.

Anh đột nhiên hỏi tôi:

- Anh đã từng sống qua nhiều giai đoạn lịch sử hiện đại Việt Nam; thời Pháp, Nhật, cách mạng, chiến tranh, anh đã qua cầu chắc hàng trăm lần, vậy mỗi lần qua anh có cảm tưởng gì?

Tôi tần ngần một lúc, rồi nói:

- Tôi có hai cảm tưởng trái ngược, không hiểu sao, khi anh hỏi, tôi chợt nhớ đến mấy câu thơ của Lý Bạch:

“Quân bất kiến Hoàng Hà chi thủy thiên thượng lai,
Bôn lưu đáo hải bất phục hồi.
Hựu bất kiến cao đường minh kính bi bạch phát,
Triêu như thanh ti mộ thành tuyết”.

(Bạn có thấy nước sông Hoàng từ trời cao đổ xuống,
Chảy ra khơi cuồn cuộn chẳng quay về.
Lại chẳng thấy, lầu cao gương sáng soi sầu bạc tóc,
Sớm tơ xanh, chiều tuyết trắng lê thê).

Có lẽ vì tuổi cao nên ngậm ngùi thế sự. Khi nhìn xuống chân cầu, nước cuồn cuộn chảy về xuôi. Nhưng khi nhìn lên xa tít thượng lưu phía nguồn, thì cảm thấy dâng lên trong lòng một niềm tự hào và biết ơn vô biên đối với tổ tiên người Việt của mình, trong thiên niên kỷ trước công nguyên, đã tạo ra bản sắc dân tộc, xây dựng nền văn hóa sông Hồng, văn hóa Đông Sơn, đồ đồng, văn hóa lúa nước xuất phát trong khu vực sông Hồng - sông Mã, nằm trong khung cảnh Đông Nam Á. Rồi trong hàng nghìn năm, từ khi Lý Thái Tổ dời đô về Thăng Long, biết bao sự kiện lịch sử thời trung đại và cận đương đại.

Chúng tôi im lặng đi một quãng dài. Tôi hỏi:

- Còn anh, tại sao ở Việt Nam, anh đặc biệt chú ý đến cầu Long Biên?

- Tôi đi nhiều, hay tìm hiểu các thành phố. Dường như ở châu Á các đô thị có một mẫu chung, nhưng đô thị nào cũng có một tính cách riêng, một câu chuyện riêng để kể qua một sự vật biểu trưng nào đó. Đối với tôi, cầu Long Biên và bối cảnh của nó có thể coi là hình ảnh thủ đô thu gọn qua ba thời kỳ của lịch sử Việt Nam hiện đại.

- Đâu hẳn là thời kỳ thuộc địa Pháp?

- Dĩ nhiên rồi. Anh Jardine cười. Đô thị hóa Hà Nội là một thể nghiệm của chủ nghĩa thực dân Pháp muốn tạo ra một thành thị thuộc địa lý tưởng về mặt vật chất và xã hội. Họ thể nghiệm cả hai chính sách: đồng hóa để biến Việt Nam thành một mảnh của lãnh thổ Pháp giống như Pháp; liên hiệp hai nước trên cơ sở hợp tác, tức là vẫn bảo tồn văn hóa Việt Nam, dĩ nhiên cả hai chính sách đều phục vụ nước mẹ.

Hai chính sách này thể hiện rõ nét trong kiến trúc thuộc địa Hà Nội: Nhà Hát lớn và Phủ Toàn quyền, thể hiện chính sách đồng hóa, tạo một góc Paris trong lòng Hà Nội. Bảo tàng L.Finot, nay là Bảo tàng lịch sử (Kiến trúc sư Ernest Hébrard), là một mẫu liên hiệp, kết hợp phong cách Đông - Tây. Cầu Long Biên khởi xướng là loại đồng hóa với mục đích khoa trương uy thế Pháp, trình độ kỹ thuật của văn minh Pháp. Xây dựng từ những năm 1898 -1903, chiếc cầu dài nhất châu Á thời đó, mang tên Toàn quyền Doumer (sau này, là Tổng thống Pháp). Để tăng uy tín, Tổng thống Pháp thường tuyên truyền cầu là do kiến trúc sư lừng danh Eiffel, người dựng tháp Eiffel ở Paris đã thiết kế, nhưng không phải.

Thực ra, tôi nói, chính sách thuộc địa Pháp ở Việt Nam, không nhất quán và có lúc xảy ra mâu thuẫn. Vì vậy, đồng hóa hay hợp tác đề huề (tức là liên hiệp) thay đổi từng giai đoạn do chính sách đối nội và đối ngoại của mẫu quốc (từ đế chế Napoléon III sang chế độ Cộng Hòa sau năm 1870, phe Công Giáo đối lập phe Cộng Hòa, ảnh hưởng phe doanh nghiệp, cạnh tranh với Đức, Anh). Phức tạp lắm, thôi ta sang giai đoạn 2 của cầu Long Biên.

- Jardine giải thích: Theo tôi, giai đoạn 2 là từ khi Việt Nam độc lập, qua thời chống Mỹ đến năm 1986, Việt Nam đổi mới. Cây cầu khẳng định thủ đô một quốc gia độc lập, mang tên mới là Long Biên. Năm 1945, những lực lượng cách mạng kéo qua cầu vào thành. Đến ngày 10/10/1954 tiếp quản thủ đô giải phóng. Ý nghĩa chính trị của cây cầu được khẳng định mạnh hơn nữa qua cuộc chiến tranh chống Mỹ. Từ năm 1965, Mỹ oanh tạc miền Bắc với 860.000 tấn bom, đây là chiến thuật chủ yếu của Johnson, muốn Mỹ hóa chiến tranh Việt Nam.

Quá giữa cầu, chúng tôi ngừng lại ở nơi bom đã ném trúng. Jardine nói tiếp:

- Mãi đến ngày 11/8/1967, cầu mới bị thiệt hại đáng kể khi bị 100 tấn bom ném xuống. Lập tức cầu được chữa bằng ván và tre, rồi bằng cầu treo cho tới ngày 5/10/1967 thì thông cầu. Bom ném tiếp đến tháng 4 năm 1968, sau đó mới chữa được cầu. Về cơ bản, Mỹ cứ ném bom, Việt Nam cứ chữa cầu. Sự việc đó có ý nghĩa như một thông điệp về ý chí sắt đá chống ngoại xâm và thống nhất đất nước. Năm 1972, báo Mỹ Time Magazine đã dẫn lời Đại tướng Võ Nguyên Giáp: “Chúng tôi sẽ là những người duy nhất ngăn người Mỹ ở thế kỷ 20”.

Tôi hỏi: “Theo anh, từ đổi mới 1986 đến nay, cái gì đặc trưng cho giai đoạn lịch sử thứ ba của cầu?”.

- Giờ thì Long Biên không còn là cầu duy nhất qua sông Hồng nữa, còn có các cầu Chương Dương, Thăng Long, Thanh Trì, Nhật Tân, Vĩnh Tuy. Thời kỳ công nghiệp hóa, toàn cầu hóa, Long Biên đâu còn uy thế như xưa, chỉ dành cho khách bộ hành, xe máy, xe đạp!

- Cầu vẫn còn có ảnh hưởng lớn đến môi trường xã hội kinh tế một vùng rộng lớn quanh cầu và cả thủ đô. Kia hòn đảo giữa sông - Jardine chỉ xuống chân cầu.

Tôi nói:

- Hòn đảo ấy còn gọi là Bãi giữa. Trung Hà năm nào cũng ngập lụt. Khuôn hình luôn thay đổi do dòng sông khi rộng khi hẹp. Trước kia có nghề trồng dâu nuôi tằm. Nay toàn trồng hoa màu, nhất là ngô.

- Jardine nói: Theo tôi biết, đó cũng là nơi trú ẩn của bọn nghiện hút và một số dân sống ngoài lề (marginal) ban ngày hoạt động ngay dưới gầm cầu, trên đê, cũng thuộc tầng lớp ấy, phải kể đến những bạn chài và những người buôn bán hai bên bờ sông. Hàng ngày đưa hoa quả, rau, thịt vào chợ Long Biên thật náo nhiệt. Cầu cũng là nơi thanh niên hẹn hò nhau để tình tự, mệnh danh là Bến Thượng Hải, còn nơi hẹn hò nữa ở Hồ Tây là Bến Hàn Quốc - Jardine cười.

- Anh quả là thổ công Hà Nội.

- Nghe nói đang có dự án tôn tạo lại cầu, có thể làm cầu mới song song với cầu cũ. Nghe nói dự án phí tổn lên đến 80 triệu Euro, chính phủ Pháp góp 40 triệu Euro. Theo tôi, có lẽ chỉ phục hồi nguyên vẹn như cầu Doumer thời thực dân Pháp chứ không thể hiện được cả 3 giai đoạn lịch sử của cây cầu, thật đáng tiếc.

Vừa lúc đó, một đoàn tàu hỏa xình xịch qua cầu. “Cầu vẫn là con đường huyết mạch Bắc-Nam” - Jardine bình luận.

Lãng đãng đi hết chiếc cầu dài 2 cây số rưỡi, nhìn thượng lưu và hạ lưu, một ngày xuân, chúng tôi đã đi qua bốn nghìn năm lịch sử đất Việt và hơn trăm năm Thăng Long thời hiện đại.