Một cái nhìn mới và khác về Nguyễn Trường Tộ

Nguyễn Trường Tộ (1828-1871) là một tên tuổi mà có lẽ không người Việt Nam có học nào trong thế kỷ XX và cả ngày nay chưa từng được một lần nghe đến.

Trong học đường và trong học giới, người ta biết đến ông như một trí thức tân tiến của thế kỷ XIX, có tư tưởng canh tân, có tấm lòng yêu nước, đã từng dâng lên triều đình vua Tự Đức lúc bấy giờ nhiều đề nghị cải cách để làm cho dân giàu nước mạnh theo con đường văn minh của châu Âu.

Song tiếc thay, dân ta lạc hậu, vua ta ngu tối, không nghe theo các “điều trần” đó. Cho nên khác với Nhật Bản, Việt Nam ta nước yếu, dân hèn, bị nước Pháp chinh phục và đô hộ. Có mấy câu ca tôi được dạy từ hồi còn học sơ học: “Nếu vua nghe lời/ Biết đường cải tổ/ Kén mặt đĩnh ngộ/ Trong bọn trẻ trai/ Đi học nước ngoài/ Thì đâu đến nỗi/ Dân ta tài giỏi/ Giàu mạnh bằng người/ Chắc rằng nước ngoài/ Hết nghề dòm dỏ…”.

Triều đình Huế vào thế kỷ 19. Ảnh tư liệu

Từ nhỏ cho đến trọn đời, tôi không bao giờ tin rằng nhà trường, giáo dục là phi chính trị. Nguyễn Trường Tộ như một nhân vật lịch sử và văn hóa xuất sắc, lỗi lạc không những là hiểu biết của chúng tôi khi còn nhỏ dại mà của cả nhiều bậc thầy của chúng tôi.

Lớn lên, chúng tôi được dạy: ông là nhà yêu nước sáng suốt (un patriote éclairé), nhà cải cách cô đơn (un reformiste solitaire). Chúng tôi khâm phục ông, thương cảm ông và tự an ủi rằng: dù sao thì nước mình cũng có những người yêu nước thông minh chứ không phải toàn kẻ ngu dại cả.

Cách mạng tháng Tám rồi kháng chiến chống Pháp, kháng chiến chống Mỹ, chế độ thực dân phong kiến bị xóa bỏ, nước nhà được độc lập, tự do, nhiều nhận thức sai lầm thời thuộc địa được điều chỉnh, nhiều thần tượng giả tạo mang tên Tây, tên Việt bị lật đổ, song cũng còn nhiều thần tượng khác sống sót. Nguyễn Trường Tộ có lẽ là một thần tượng như vậy.

Tôi về Huế vẫn thường đi trên một con đường ở trung tâm thành phố mang tên Nguyễn Trường Tộ, thường đi mà không băn khoăn gì. Cùng với thời gian, nhận thức của tôi vẫn như xưa mặc dù kiến thức có mở rộng hơn. Quyển sách của tôi về văn học thế kỷ XIX là Hợp tuyển Thơ Văn Việt Nam của NXB Văn Hóa Hà Nội có in tiểu sử và trích thơ văn của Nguyễn Trường Tộ, nhưng tiểu sử thì vắn tắt, thơ văn thì trích tuyển, không có gì khác hơn các truyền thuyết về ông.

Về tác phẩm, sách trích tuyển hai bài văn nổi tiếng nhất của ông là Thiên hạ đại thế luận và Tế cấp bát điều. Đọc kỹ hai bài văn ấy, nếu chăm chú thì cũng thấy những chỗ “bất cập” trong đó, ví như tầm nhìn quốc tế của ông còn rất sơ lược và thiên lệch, và những kiến nghị của ông cũng còn nhiều điểm đáng nghi ngờ. Không nói cái “đại thế thiên hạ” của ông rõ rệt có ý đề cao các nước đế quốc phương Tây, xem như chúng hoành hành khống chế thiên hạ, không gì ngăn cản được.

Riêng trong “tám điều tế cấp” của ông lại có kiến nghị dùng chữ Hán đọc theo âm Việt để làm quốc ngữ, quốc văn. Tôi lấy làm lạ một người gọi là tân học tiên giác như ông mà lại không biết đến chữ Nôm và chữ Quốc ngữ. Nhưng lại nghĩ rằng: dù sao ông cũng là người thế kỷ XIX, không thể giống với chúng ta ngày nay, dù sao như thế cũng đã là “đi trước thời đại ” rồi.

Liên hệ với bản thân, tôi cho rằng đa số người Việt Nam, kể cả giới trí thức và học giả, chỉ biết về Nguyễn Trường Tộ một cách gián tiếp qua truyền thuyết mà không để công đi sâu nghiên cứu, chỉ tin vào các công trình thời Pháp thuộc. Chúng ta biết về ông một cách sơ sài, nhiều sự kiện về ông vẫn còn trong bóng tối hay sương mù. Còn các tác phẩm của ông thì ngoài hai bài chính mà tôi đề cập trên đây (vốn bằng chữ Hán chưa được dịch toàn văn mà chỉ trích tuyển), các bản điều trần khác đều chưa được biết đến.

Lớp học ngày xưa. Ảnh tư liệu

Vấn đề Nguyễn Trường Tộ được quan tâm nhiều hơn do hai hoàn cảnh đặc biệt sau đây:

1/ Sau ngày nước nhà được hoàn toàn độc lập, thống nhất (1975), tiến vào công cuộc tái thiết đất nước sau chiến tranh, trước tình hình và nhiệm vụ lịch sử mới, không phải do tình thế một lúc mà còn do chiến lược lâu dài, Đảng Cộng sản Việt Nam đề ra đường lối đổi mới, trong đó có vấn đề nhìn lại quá khứ để nhìn đúng hiện tại và nhìn rõ tương lai.

Suy nghĩ (hay tư duy) của chúng ta trong hòa bình, độc lập, thống nhất, xây dựng, trên các vấn đề nhất định, phải đổi mới so với thời kỳ trước đó. Chúng ta có điều kiện để làm những việc trước đó phải gác lại. Không còn sức ép của chiến tranh, của ngoại xâm, đầu óc và tâm hồn chúng ta thoáng đãng, rộng rãi, tỉnh táo, toàn diện hơn.

2/ Riêng về nhân vật Nguyễn Trường Tộ cũng như các nhân vật tương tự như ông, sau hòa bình thống nhất, chúng ta có điều kiện để tìm hiểu nhiều hơn về ông, bổ khuyết những chỗ còn thiếu sót trong thân thế và sáng tác của ông. Công việc này được một người tri thức Thiên Chúa giáo yêu nước nổi tiếng ở miền Nam nay đã quá cố, linh mục Trương Bá Cần, tiến sĩ sử học, từng nhiều năm sưu tập tư liệu và nghiên cứu về Nguyễn Trường Tộ. Kết quả là tập sách Nguyễn Trường Tộ , con người và di thảo được xuất bản.

Mục đích của công trình này của vị linh mục cũng dễ dàng nhận thấy: ông muốn qua con người và di thảo của Nguyễn Trường Tộ để minh họa một điều mà có lẽ trong thâm tâm ông còn vương vấn: đó là tấm lòng thiết tha với đất nước và những đóng góp trí tuệ của một người Thiên Chúa giáo Việt Nam cho vận mệnh của Tổ quốc Việt Nam trong một giai đoạn lịch sử đen tối, đau thương của đất nước này.

Bản thân tôi cũng nhờ vào công trình của linh mục Trương Bá Cần mới biết rõ thêm về con người và di thảo của Nguyễn Trường Tộ trong bối cảnh mới của đất nước để có được những thông tin mới và suy nghĩ mới. Từ những tư liệu mới bổ sung, tôi ngộ thêm ra hai điều sau đây mà trước đó chưa thấy:

1. Về thân thế của ông, có hai sự kiện mới đối với tôi: đó là ông cùng với Giám mục đỡ đầu của ông là Gauthier đã có mặt trong nhóm các giáo sĩ Pháp và Việt Nam dẫn đầu bởi giám mục Pellerin đến Đà Nẵng để đón tiếp đoàn quân viễn chinh Pháp năm 1858 đánh vào Cửa Hàn, khởi đầu cuộc chiến tranh xâm lược của Pháp đối với nước ta.

Vì Rigault de Genouilly nhận thấy thời cơ bất lợi (còn chiến tranh ở Nam Trung Quốc) và lực lượng không đủ nên không dám tiến sâu vào nội địa của ta theo khẩn cầu của nhóm giáo sĩ này, nên buộc họ trở về nhiệm sở, còn thầy trò Gauthier và Nguyễn Trường Tộ thì theo yêu cầu của R. de Genouilly phải lánh sang Hồng Kông. Cho đến đầu năm 1861, lại theo yêu cầu của Phó đô đốc Pháp Charner, hai thầy trò trở về Gia Định để giúp tướng Charner tiến công và mở rộng chiếm đóng 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ.

Trong thời gian này, ông cộng tác với quân Pháp, cùng với Trương Vĩnh Ký và Tôn Thọ Tường làm việc phiên dịch tài liệu từ chữ Hán ra chữ Pháp cho Bộ tham mưu quân Pháp. Ông còn có lúc làm trung gian hòa đàm giữa đại diện triều đình với đại diện quân Pháp, giúp đạt được hưu chiến tạm thời, sau khi Pháp chiếm xong 3 tỉnh miền Đông cần nghỉ ngơi để củng cố lực lượng và ổn định vùng đất mới chiếm được.

Còn hơn cả Trương Vĩnh Ký, thời gian này, ông và Giám mục Gauthier còn liên lạc với triều đình Huế để gửi các “điều trần” cho triều đình, thậm chí có lúc nhận lãnh sứ mệnh của triều đình sang Pháp mua máy móc, mời giáo viên về mở trường kỹ thuật ở Huế. Tất cả những việc này ông làm trong thời gian giặc lần lượt chiếm hết Nam Kỳ và vua Tự Đức còn sống.

Kể ra triều đình đối xử với thầy trò ông cũng không đến nỗi kỳ thị. Bình Tây sát tả là chuyện mãi về sau. Cho đến cuối đời (1871), ông và Gauthier còn có vai trò liên lạc giữa quân Pháp và triều đình Huế không để đưa ra nhiều kiến nghị canh tân? Một sứ mệnh như vậy, Trương Vĩnh Ký phải đợi đến sau 1884 mới làm theo ý của Paul Bert bên cạnh vua bù nhìn Đồng Khánh với nội dung khác.

Nguyễn Trường Tộ mất sớm ở quê nhà 5 năm sau cái chết của Phan Thanh Giản và bi kịch thất thủ toàn bộ sáu tỉnh Nam Kỳ và quân Pháp khởi đầu âm mưu tiến ra Bắc. Cho đến cuối đời, quan hệ của ông với Garthier như thế nào? Có phải suốt 20 năm họ chung lòng sát cánh giúp quân Pháp vận động triều đình hòa giải với Pháp để canh tân đất nước?

2. Về tác phẩm của ông, công trình của linh mục Trương Bá Cần cung cấp cho chúng ta các bản dịch toàn văn hầu hết các bản điều trần của Nguyễn Trường Tộ mà Trương Bá Cần gọi là các di thảo.

Nhờ có được trước mắt một cách tương đối có hệ thống và đầy đủ các văn bản đó chúng ta mới có thể xét đoán được toàn bộ nội dung của chúng, toàn bộ tư tưởng canh tân cũng như thực chất tinh thần yêu nước của ông. Đối với tôi, điều mới mẻ trước tiên mà toàn bộ tư liệu về tác phẩm của Nguyễn Trường Tộ đã làm sáng tỏ là bối cảnh lịch sử và khung cảnh thời gian trong đó Nguyễn Trường Tộ viết và gửi các bản điều trần của mình.

Hóa ra là như thế này: Theo trình tự thời gian, bản điều trần thứ nhất: Thiên hạ đại thế luận được viết năm 1863 khi thầy trò ông trở về Gia Định (có thể sớm hơn) và bản cuối cùng được viết năm 1871, năm ông qua đời. Như vậy, thời gian gói gọn là từ khi nước ta mất 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ đến lúc mất nốt ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ.

Trong thời gian này, Nguyễn Trường Tộ cùng với Giám mục Gauthier ở vị trí như ông nói là “người bầy tôi của nước Đại Nam trốn ra nước ngoài”, từ phía người Pháp để liên lạc với vua quan nhà Nguyễn. Các bản điều trần được lần lượt gửi lên triều đình trong các năm ấy trong quá trình nước ta mất dần sáu tỉnh Nam Kỳ.

Nhận rõ tính thời gian của các điều trần đó, đối với tôi một vấn đề được đặt ra là: Giả thử Nguyễn Trường Tộ viết các bản đó với tấm lòng yêu nước ưu dân thật sự và với mong muốn chân thành nước nhà canh tân nhanh chóng theo các kiến nghị của ông, thì liệu triều đình nhà Nguyễn có thể thực hiện được không, khi lúc này giặc đã từ ngoài ngõ vào đến trong nhà, nguy cơ diệt vong đang diễn ra trước mắt?

Đó là chưa nói từ đầu đến cuối, Nguyễn Trường Tộ thuyết phục triều đình giảng hòa với Pháp để có điều kiện canh tân thì điều đó trên thực tế phái chủ hòa trong triều đình với những người có thế lực như Trần Tiễn Thành, Thượng thư Bộ binh; Phan Thanh Giản, Đại sứ lưu động, Kinh lược Nam Kỳ, chuyên cầu hòa và giảng hòa với Pháp, đã hết lòng thực hiện chính sách để cuối cùng từ mất 3 tỉnh miền Đông đến mất toàn bộ Nam Kỳ sau đó mất cả nước.

Thế thì tóm lại một lời, toàn bộ các điều trần đó ngoài những lời lẽ khoa trương, hoa mỹ (có người gọi là hào nhoáng và lừa dối), liệu có giá trị thực tế gì, và tấm lòng yêu nước trong đó liệu có phải là thành thực hay đây là một thứ “quân trung từ mệnh” của Nguyễn Trường Tộ từ Bộ Tham mưu quân xâm lược gửi để “địch vận” thuyết hàng đối với triều đình Việt Nam?

Khởi thảo điều trần. Ảnh tư liệu

Sau cái chết của Phan Thanh Giản ở Vĩnh Long là sự hy sinh của Nguyễn Tri Phương rồi sự tử tiết của Hoàng Diệu ở Hà Nội: “Mười năm thương ước, lẽ nào tin được địch tâm?”. Lời di biểu của Hoàng Diệu đã tổng kết chủ trương cầu hòa, chủ hòa của triều đình. Liên hệ với bối cảnh lịch sử đó, “vạn ngôn thư” của Nguyễn Trường Tộ nếu không phải lời xảo trá của kẻ manh tâm dụ hàng thì cũng là lời trống rỗng của kẻ Nho giả vu khoát? “Sự nghiệp” vận động của Nguyễn Trường Tộ với triều đình Tự Đức từ sau hiệp ước 1862, sau khi ông chết sẽ được Trương Vĩnh Ký tiếp tục ở “tầm cao mới” bên cạnh vua bù nhìn Đồng Khánh, từ sau hiệp ước 1884.

Công trình của linh mục Trương Bá Cần: Nguyễn Trường Tộ, con người và di thảo đã cung cấp tư liệu để thấy rõ hơn nhân vật này qua màn sương của quá khứ và của những truyền thuyết về ông từ trước cho đến lúc này trong nhận thức của tôi. Cũng như đối với Trương Vĩnh Ký, tôi đã thay đổi nhận thức và đánh giá của mình đối với ông.

Sau đó không lâu, tôi đọc được trên mạng Internet thông tin và nội dung cuốn sách Nguyễn Trường Tộ, thực chất con người và di thảo của hai tác giả người Việt ở Hoa Kỳ là Nguyễn Kha và Trần Chung Ngọc. Cuốn sách này bình luận và phản biện tập sách của linh mục Trương Bá Cần. Tôi có nhiều điểm đồng tình với hai tác giả, nhất là phần nghiên cứu của Nguyễn Kha.

Về cơ bản, công trình của Nguyễn Kha đáp ứng được hai băn khoăn còn tồn tại trên đây của tôi về Nguyễn Trường Tộ với những trích dẫn từ các điều trần của Nguyễn Trường Tộ liên hệ với các sự kiện lịch sử đương thời được minh chứng bằng nhiều sử liệu chuẩn xác, thuyết phục. Những chỗ còn nghi ngờ của tôi về con người và di thảo của Nguyễn Trường Tộ được giải đáp bằng nhiều sử liệu có liên quan, tuy chưa phải tất cả.

Gần đây, trong những lần về thăm quê hương, tác giả Bùi Kha (bút danh khác của Nguyễn Kha) xin tái bản tại Việt Nam công trình nghiên cứu về Nguyễn Trường Tộ của anh và ngỏ ý muốn tôi viết mấy lời đầu sách. Đọc bản thảo của Bùi Kha với nhan đề Nguyễn Trường Tộ và vấn đề canh tân, tôi tán thành phần lớn các dẫn liệu và nhận xét của anh về “con người và di thảo” Nguyễn Trường Tộ.

Đó là cái nhìn khác và mới, chúng có thể giúp người đọc như tôi thay đổi nhận thức đã có về ông trước nay do chưa đọc hết hay đọc kỹ các di thảo đó một cách có hệ thống và liên hệ chúng với hoàn cảnh của ông trong thời gian viết và gửi các điều trần. Về nội dung, tôi có phần dè dặt trước các khẳng định của tác giả nhất nhất quy kết các điều trần đều viết với sự chỉ đạo của các giới quân sự và tôn giáo về phía quân xâm lược và chiếm đóng Pháp, mặc dù cũng có cơ sở để xét đoán như vậy song không nên khẳng định hoàn toàn, nhiều chỗ nên đề xuất dưới dạng nghi vấn hay đối chiếu để người đọc phán đoán thì tốt hơn, tránh cho người đọc sự hiểu lầm tác giả có định kiến sẵn…

Tất nhiên, công trình của Bùi Kha có thể xem là một luận đề (thèse) được nêu lên để chứng minh bằng các sự kiện và văn bản lịch sử. Hãy để cho sự việc nói thay mình vẫn tốt hơn những lời khẳng định đôi khi như những lời buộc tội. Và nó cũng sẵn sàng đón nhận các lời phản biện.

Có lẽ đây là nhược điểm của Bùi Kha mà một người phê bình ở hải ngoại nhận xét rằng có lẽ vì tác giả không phải là nhà văn chuyên nghiệp nên lời lẽ có phần “thiếu trau chuốt và suôn sẻ”. Dù là sáng tác hay nghiên cứu, văn là người, nhiều chỗ Bùi Kha khá thẳng thừng, bộc trực, không khôn khéo tế nhị lắm. Dù sao theo tôi cái tâm của người viết ở đây có thể thấy rõ được.

Cuối cùng, có một điều trong cuộc đời của Nguyễn Trường Tộ mà tôi vẫn còn băn khoăn. Các bài viết về tiểu sử của ông trong đó có tài liệu của gia đình ông cho biết rằng, lúc cuối đời, ông có bày tỏ tâm sự chung thân của mình bằng hai câu thơ cổ: “Nhất thất túc thành thiên cổ hận/ Tái hồi đầu dĩ bách niên thân” (Một bước sa chân muôn thuở hận/ Quay đầu thân thế đã trăm năm).

Dù hai thân phận khác nhau, song cuộc đời ông phải chăng so với Trương Vĩnh Ký cũng có những chỗ tương đồng. Dù ca ngợi hay lên án ông song nơi con người có thể xem là tài hoa và mệnh bạc đó hẳn còn có nhiều tâm sự ông mang theo mình xuống đất? Phải chăng cái ánh sáng cuối đời đó của ông có thể soi chiếu cả cuộc đời ông? Công trình của Bùi Kha chưa đặt ra vấn đề đó, thành thử vấn đề “Nguyễn Trường Tộ, con người và di thảo” chưa thể xem là đã có thể có câu trả lời cuối cùng.

Tôi chia sẻ với những lời cuối cùng của tác giả Bùi Kha trong phần kết cuốn Nguyễn Trường Tộ và vấn đề canh tân:

Nghiên cứu và đánh giá các biến cố và sự kiện lịch sử sẽ giúp chúng ta và thế hệ mai sau học được bài học “ôn cố tri tân”.

Mong ước cuối cùng của tôi là, đề nghị các sử gia chuyên về lịch sử Việt Nam trong thời Pháp thuộc và Viện Sử học Việt Nam nên có một chương trình và kế hoạch sưu tầm các tài liệu mật tại các Thư khố Pháp và tại Bộ Truyền gíao Hải ngoại Paris để có một sự đánh giá xác đáng về các nhân vật lịch sử bấy giờ trong đó có Nguyễn Trường Tộ. Còn bài viết của tôi cũng còn hạn hẹp cần bổ túc rất nhiều, mong được các bậc cao minh chỉ giáo”.

Tháng 3/2011


Bài liên quan: