Một số bài thơ tiêu biểu của Đỗ Phủ

Bài 1

龍門奉仙寺

已從招提遊

更宿招提境

陰壑生虛籟

月林散清影

天闕象緯逼

雲臥衣裳冷

欲覺聞晨鐘

令人發深省


Phiên âm

DU LONG MÔN PHỤNG TIÊN TỰ(1)

Dĩ tòng chiêu đề du

Cánh túc chiêu đề cảnh

Âm hác sanh hư lại

Nguyệt lâm tán thanh ảnh

Thiên khuyết tượng vĩ bức

Vân ngọa y thường lãnh

Dục giác văn thần chung

Linh nhân phát thâm tỉnh.

 

Dịch nghĩa

CHƠI THĂM CHÙA PHỤNG TIÊN Ở NÚI LONG MÔN

(Sáng) đã đến thăm chùa Phật,

(Đêm tối) ngủ lại cạnh chùa một đêm.

Trong hang lạnh tối sinh ra tiếng sáo trời,

Ánh trăng sáng trong vườn cây tản mác trên bóng cây đầy đất,

(Trên núi cao) ngưỡng trông bầu trời, sao trời như ở ngay bên cạnh.

Thân mình như nằm ngủ trong mây, áo quần (mảng) bị thấm lạnh.

(Đêm hết, trời gần sáng) nghe tiếng chuông chùa buổi sáng

Khiến cho lòng người phải tỉnh ngộ sâu sắc.

 

Dịch thơ

Đã bạn với nhà sư;

Lại nằm nhờ cửa Phật...

Hang hút gió vi vu...

Ngàn tỏa trăng trong vắt!

Mây dầm áo lạnh mình...

Trời kề sao sát mặt!

Chuông sớm gọi hồn mê,

Việc đời lòng tẻ ngắt.

Nhượng Tống dịch

 

Sáng đến thăm chùa Phật,

Ngủ trọ chùa đêm nay.

Hang lạnh vi vu sáo,

Ánh trăng rải rừng cây.

Sao trời ở bên cạnh,

Như nằm ngủ trong mây.

Nghe tiếng chuông buổi sáng,

Chợt tỉnh ngộ lòng này.

Mai Quốc Liên dịch.

1. Viết khoảng lúc Đỗ Phủ 25 tuổi (737) theo “Độc Đỗ tâm giải” (瀆杜心解). Chùa ở huyện Y Khuyết (?), Hà Nam. Có thuyết nói sau khi thi trượt Tiến sĩ, (khoảng 735-736) vào khoảng 30 tuổi (741) đến 33 tuổi (744), Đỗ đến vùng gần Lạc Dương là Y Khuyết (伊闕) Long Môn (龍門) thăm hang chùa Phật nổi tiếng và lưu lại hai bài thơ, đây là một. Chiêu đ: chữ Phạn: thác đđề sa, thác nhầm thành chiêu, gọi tắt là chiêu đ: chùa Phật.

 

Bài 2

春日憶李白

白也詩無敵

飃然思不群

清新庾開府

俊逸鮑參軍

渭北春天樹

江東日暮雲

何時一樽酒

重與細論文

 

Phiên âm

XUÂN NHẬT ỨC(2)LÝ BẠCH

Bạch dã thi vô địch

Phiêu nhiên tứ bất quần

Thanh tân Dữu Khai phủ

Tuấn dật Bão Tham quân

Vị bắc xuân thiên thụ

Giang Đông nhật mộ vân

Hà thời nhất tôn tửu

Trùng dữ tế luân văn?

 

Dịch nghĩa

NGÀY XUÂN NHỚ LÝ BẠCH(3)

Thơ anh Bạch(4) không ai địch nổi

Tứ thơ phiêu dật khác hẳn người thường

Thanh thoát mới mẻ như (thơ) quan Khai phủ họ Dữu(5)

Mạnh mẽ phiêu dật như (thơ) quan Tham quân họ Bão(6)

Mùa xuân thấy cây cối bên bắc sông Vị Thủy(7) (lại nhớ ông)

Trông đám mây chiều ở Giang Đông (càng thêm buồn)(8)

Ngày nào (được uống với nhau) một chén rượu

Lại cùng bàn luận kỹ càng những chuyện văn chương.

2 . Có bản viết “Xuân nhật hoài Lý Bạch” (Đường thi trích dịch, trang 819).

3. Mùa hạ năm Thiên Bảo thứ 3 (744) hai cự tinh (vì sao khổng lồ) trên thi đàn thời Đường là Lý Bạch và Đỗ Phủ gặp nhau ở Lạc Dương, sau đó cùng đi du lịch châu Lương (nay thuộc tỉnh Hà Nam), trải qua thời gian xa cách ngắn ngủi, mùa xuân năm sau hai người lại gặp nhau ở Duyện Châu.Về sau Lý Bạch đi Giang Đông, Đỗ Phủ đến Trường An. Họ không có dịp gặp lại. Sau này Đỗ Phủ đã viết nhiều bài thơ thể hiện nỗi lòng nhớ Lý Bạch. Bài này nhà thơ  làm năm 746, khi trở về Trường An, được đánh giá cao trong các bài thơ viết về Lý Bạch. Nhà thơ biểu hiện lòng ngưỡng mộ, thương nhớ và tình cảm nồng nàn đối với bạn. Những câu như: “Xuân thiên thụ”, “Nhật mộ vân”, đời sau được dùng làm thành ngữ, biểu thị nỗi nhớ nhau của bạn bè, được dùng cho đến ngày nay.

4. Nguyên văn: Bạch dã 白也 (Bạch a, Bạch ấy a), bạn thân nói với nhau, rất thân mật! 也 là hư từ dùng như một dấu phẩy,­ Đỗ Phủ dùng hư từ rất diệu kỳ.

5. Khai phủ họ Dữu: tức Dữu Tín, tự là Tử Sơn (513 - 581), một nhà thơ thời Nam Bắc triều. Khai phủ là chức quan.

6. Tham quân họ Bão: tức Bão Chiếu, tự là Minh Viễn (445 - 470), cũng là một nhà thơ thời Nam Bắc triều. Tham quan là chức quan.

7. Nguyên văn là Vị bắc: phía bắc sông Vị, khu vực Hàm Dương, Tràng An, nơi Đỗ Phủ đang ở.

8. Giang Đông: nơi Lý Bạch ở. Phía nam hạ lưu sông Trường Giang, ngày nay thuộc phía nam tỉnh Giang Tô và phía bắc tỉnh Triết Giang. Lúc này Lý Bạch đang phiêu bạt ở Đông Ngô. Hai câu tả sự ngưỡng mộ Lý Bạch của nhà thơ. Trong thơ đối cử hai nơi hai cảnh, một nói rõ hai người ở hai nơi cách nhau ngàn dặm, một tả nỗi lòng nhớ bạn của tác giả. Tình cảm này được thể hiện tha thiết, khéo léo. “Xuân thiên thụ” (Cây ngày xuân) là cảnh thực ngay trước mắt; “Nhật mộ vân” (Mây chiều tối) là tưởng tượng của tác giả, cũng là để chỉ cuộc đời phiêu bạt vô định của Lý Bạch.

 

Dịch thơ:

Lý Bạch thơ ai sánh,

Lâng lâng tứ tuyệt trần.

Thanh hơn Dữu khai phủ,

Cao chấp Bão Tham quân.

Mây đất Giang Đông tối,

Cây trời Vị bắc xuân.

Bao giờ một nậm rượu,

Lại cùng luận thơ văn.

Nam Trân dịch

 

Anh Lý, thơ vô địch

Nhẹ bay tứ tuyệt luân

Trong như Dữu Khai phủ

Mạnh sánh Bão Tham quân

Giang Đông mây chiều tối

Vị bắc cây trời xuân

Bao giờ một bầu rượu

Gặp nhau, bàn thơ văn.

Mai Quốc Liên dịch

 

Bài 3

自京竄至鳳翔喜達行在所三首選二

其一

西億岐陽信

無人遂卻回

眼穿當落日

心死著寒灰

茂樹行相引

連山望忽開

所親驚老瘦

辛苦賊中來

 

Phiên âm

TỰ KINH THOÁN CHÍ PHƯỢNG TƯỜNG HỈ ĐẠT HÀNH TẠI SỞ (tam thủ tuyển nhị)

K nhất

Tây ức Kỳ Dương tín

Vô nhân toại khước hồi

Nhãn xuyên đương lạc nhật

Tâm tử trước hàn khôi

Mậu thụ hành tương dẫn

Liên sơn vọng hốt khai

Sở thân kinh lão sấu

Tân khổ tặc trung lai.

 

Dịch nghĩa

Phía TỪ KINH CHẠY ĐẾN PHƯỢNG TƯỜNG MỪNG TỚI ĐƯỢC CHỖ VUA(9)

(ba bài chọn hai)

Bài 1

Tây nhớ mong tin tức Kỳ Dương

Không người truyền báo đành trở gót

Mắt rõi theo hướng mặt trời đang lặn

Lòng lặng chết như tro lạnh

Hàng cây rậm rạp dẫn đường đi

Núi liên miên bỗng nhiên mở lối

Người thân thuộc kinh ngạc kêu lão sao gầy guộc

(Thương lão) đã khốn khổ từ chốn giặc thoát ra.

9. Tháng 2 năm Chí Đức thứ 2 (757), Túc Tông từ Bành Nguyên dời đến Phượng Tường. Vào tháng 4 Đỗ Phủ đã mạo hiểm tính mạng từ  cửa Kim Quang Trường An chạy trốn, theo đường nhỏ chạy đến Phượng Tường. Tác giả chú rằng: “Tự kinh thoán Phượng Tường” (Từ kinh đô chạy đến Phượng Tường). Chùm thơ này làm sau khi đến được Phượng Tường.

 

Dịch thơ

Tin tức Kỳ Dương ngóng,

Người về nào thấy ai.

Tro tàn, lòng đã chết,

Bóng xế, mắt không rời.

Theo khói cày lần bước,

Chợt đồi núi mở đôi.

Bạn kinh mình hốc hác:

Vùng giặc thoát đây rồi!

Bảo Định Giang dịch

 

其二

愁思胡笳夕

淒涼漢苑春

生還今日事

間道暫時人

司隸章初睹

南陽氣已新

喜心翻倒極

鳴咽淚沾巾

 

Phiên âm

K nhị

Sầu tư Hồ già tịch

Thê lương Hán uyển xuân

Sinh hoàn kim nhật sự

Gian đạo tạm thời nhân.

Tư Lệ chương sơ đổ

Nam Dương khí dĩ tân

Hỉ tâm phiên đảo cực

Minh yên lệ triêm cân.

 

Dịch nghĩa

Não lòng nhớ tới những buổi tối nghe tiếng kèn Hồ(10)

Cảnh xuân thê lương ở vườn Hán Khúc Giang(11)

Được sống trở về là chuyện bây giờ

Còn trên đường đi chỉ là người sống tạm

(chẳng biết chết lúc nào)

Điển chương Tư Lệ mới được thấy đây(12)

Khí Nam Dương đã đổi thay rồi(13)

Lòng đang vui lại đảo hẳn lại

Nghẹn ngào lệ ướt đẫm khăn.

10. Nhớ tới khi còn ở Trường An.

11. Nguyên văn dùng Hán uyển tức vườn Hán, trỏ vườn cây ở cạnh sông Khúc Giang nơi kinh đô. Ở đây chỉ Cấm uyển ở Trường An, triều Đường.

12. Tư Lệ chương: điển chương thời Hán Quang Vũ. Hán Quang Vũ tức Lưu Tú, làm Tư Lệ hiệu úy, đã khôi phục vương triều Hán từ triều Vương Mãng. Ở đây dùng ví với Túc Tông dẹp nghịch tặc dựng lại triều Đường.

13. Khí Nam Dương: khí lành Nam Dương. Hán Quang Vũ người Nam Dương, dùng ví với Đường Túc Tông. Khí Nam Dương: khí tượng Trung Hưng. Quang Vũ Đế Lưu Tú, khởi binh ở Thung Lăng (nay là Tảo Dương, Hồ Bắc). Thuật sĩ Tô Bá A nhận lệnh của Vương Mãng đến Nam Dương, nhìn về Thung Lăng nói: “Khí lành thay! Dồi dào tốt đẹp thay!”.

 

Dịch thơ

Não lòng kèn Hồ tối,

Thê lương Trường An xuân.

Sống về, mừng biết vậy;

Đường trường, náu tấm thân.

Điển chương mừng thấy lại,

Nam Dương rực khí thần.

Đang vui, sầu trở lại.

Nghẹn ngào lệ đẫm khăn.

Mai Quốc Liên dịch

 

Bài 4

別房太尉墓

他鄉復行役

駐馬別孤墳

近淚無乾土

低空有斷雲

對棋陪謝傅

把劍覓徐君

惟見林花落

鶯啼送客聞

 

Phiên âm

BIỆT PHÒNG THÁI ÚY MỘ

Tha hương phục hành dịch

Trú mã biệt cô phần

Cận lệ vô can thổ

Đê không hữu đoạn vân

Đối kỳ bồi Tạ Phó

Bả kiếm mịch Từ Quân

Duy kiến lâm hoa lạc

Oanh đề tống khách văn.

 

Dịch nghĩa

TỪ BIỆT MỘ PHÒNG THÁI ÚY(14)

Ta lại đi công cán nơi quê người,

Dừng ngựa giã từ nấm mồ lẻ loi.

Chỗ gần nước mắt, không có đất khô ráo

Dưới vòm trời, có những đám mây đứt đoạn (vì buồn).

Đánh cờ với Tạ Phó,

Mang gươm tìm Từ Quân(15),

Chỉ thấy hoa rừng rụng,

Nghe oanh hót tiễn đưa người…

14. Bài này làm vào tháng 2 năm Quảng Đức thứ 2 (764), khi Đỗ Phủ sắp từ Lang Châu đi đến Thành Đô,  trước khi đi đã đến mộ Phòng Thái úy khóc biệt. Phòng Thái úy tức Phòng Quán.

15. Tạ Phó tức Tạ An, đời Tấn, đang đánh cờ với bạn thì có thư đến báo tin có giặc, Tạ An buồn bã. Từ Quân: Lưu Hướng, người thời Xuân Thu. Thuyết uyển: "Ngô Lý Trát đi sứ sang Tấn thuận đường ghé thăm Từ. Biết Từ thích thanh kiếm của mình, Lý Trát định khi về sẽ tặng bạn nhưng khi tới thì Từ đã chết, liền lấy thanh kiếm cắm lên mộ ông rồi đi. Ở đây Tạ Phó và Từ Quân trỏ Phòng Thái úy tức Phòng Quán.

 

Dịch thơ

Dừng ngựa bên mồ bạn.

Quê người nay bỏ nhau!

Lệ dài đất đầm ướt.

Trời thấp mây dầu dầu,

Trút kiếm người nào thấy!

Hầu cờ chuyện đã lâu!

Hoa ngàn thầm lặng rụng

Oanh hót giục ai sầu!

Nhượng Tống dịch

 

Quê người còn lang bạt,

Dừng ngựa thăm mồ hoang.

Lệ rơi ướt mặt đất,

Trời cao mây che ngang.

Đánh cờ, học Tạ Phó,

Mang kiếm, tìm Từ Quân.

Chỉ thấy hoa rừng rụng,

Tiếng oanh đưa dặm ngàn.

Mai Quốc Liên dịch

 

Bài 5

閣夜

歲暮陰陽催短景

天涯霜雪霽寒宵

五更鼓角聲悲壯

三峽星河影動搖

野哭千家聞戰伐

夷歌幾處起漁樵

臥龍躍馬終黃土

人事音書漫寂寥

 

Phiên âm

CÁC DẠ

Tuế mộ âm dương thôi đoản cảnh

Thiên nhai sương tuyết tễ hàn tiêu

Ngũ canh cổ giác thanh bi tráng

Tam giáp tinh hà ảnh động dao

Dã khốc thiên gia văn chiến phạt

Di ca kỷ xứ khởi ngư tiều

Ngọa Long, Dược Mã chung hoàng thổ

Nhân sự âm thư mạn tịch liêu.


Dịch nghĩa

ĐÊM TRÊN GÁC(16)

Cuối năm, sáng tối đuổi nhau đi mau, ngày ngắn lại(17)

Nơi chân trời, sương tuyết vừa tạnh trong đêm lạnh

Suốt năm canh, tiếng tù và thanh âm bi tráng(18)

Nơi Tam Giáp bóng sao bóng sông Ngân xao động

Qua tiếng khóc nơi đồng nội của ngàn nhà, nghe tiếng
chiến trận

Mấy nơi tiếng dân ca miền núi do các ông chài, ông hái củi
ca lên(19)

Ngọa Long (Khổng Minh), Dược Mã (Công Tôn Thuật)

cuối cùng cũng biến thành đất thó(20)

Việc người, tin tức những vắng tanh.

16. Bài này làm năm 766 khi nhà thơ trú đêm tại Tây Các ở Quỳ Châu. Lúc này bạn bè của ông ở Tứ Xuyên đều chết cả rồi và đất Tứ Xuyên còn loạn.

17. Ý nói: cuối năm, ngày đông ngắn.

18. Ý nói: loạn lạc.

19. Những người câu cá, đốt than mà cũng hát những bài ca của người rợ, đủ thấy tập tục thay đổi lắm rồi.

20. Ngọa Long tức Gia Cát Lượng (Tam Quốc) Dược Mã tức Công Tôn Thuật (cuối Hán). Thuật cũng đã từng chiếm đất Thục xưng đế. Ở Quỳ Châu đều có di tích và đền thờ của hai người đó. Ý nói: triều đình, bè bạn quên mình thì cũng buồn, nhưng nghĩ lại trung như Gia Cát Lượng hay nghịch như Công Tôn Thuật rồi cũng chết, nhân dân ngày nào cũng mắc nạn chiến tranh, nỗi buồn của mình thấm vào đâu!

 

Dịch thơ

Ngày tàn gần tết mau trưa, tối!

Đêm lạnh phương trời sạch tuyết, sương!

Ba Thác ánh sao rung nhấp nháy!

Năm canh tiếng ốc thổi buồn thương!

Quăng chài mấy kẻ nghêu ngao sớm!

Chết trận đầy đồng khóc lóc vang!

Việc nước, tình nhà đầu giục bạc!

Công cao, danh lớn, đất trơ vàng!

Nhượng Tống dịch

 

Âm dương năm hết ngày thâu lại,

Sương tuyết phương trời đêm sáng ra.

Bi tráng năm canh hồi trống ốc,

Lung lay Tam giáp bóng ngân hà.

Muôn nhà giặc giã đồng quê khóc,

Mất chỗ ngư tiều khúc rợ ca.

Dược Mã, Ngọa Long rồi hóa đất,

Sự đời, tin bạn não gì ta!

Khương Hữu Dụng dịch

 

Năm tàn, ngày ngắn ruổi qua nhanh

Đêm lạnh, chân trời tuyết ráo quanh

Năm canh tiếng trống dồn bi tráng

Ba Thác, ngàn sao động đáy duềnh

Chết trận nghìn nhà òa tiếng khóc

Quăng chài mấy khúc trỗi ca thanh

Ngọa Long, Dược Mã rồi ra đất

Tin tức gần đây cũng vắng tanh.

Mai Quốc Liên dịch