"Đừng làm hoen ố máu của người đi trước"

Năm 1967, Nhật ký Nguyễn Ngọc Tấn là cuốn nhật ký đầu tiên của bộ đội được phát hành. Nguyễn Ngọc Tấn ghi nhật ký từ ngày 10-10-1953 đến 22-5-1955, ở chiến trường Đông Nam Bộ gian lao mà anh dũng.

Nguyễn Ngọc Tấn sinh ở Nam Định, 13 tuổi rời quê vào Sài Gòn, vừa đi học, vừa đi làm. Cách mạng tháng Tám thành công, anh tham gia du kích, rồi vào bộ đội chiến đấu ở miền Đông Nam Bộ. Anh ghi từng ngày, từng công việc, khắc họa rõ gương mặt, thái độ, tình cảm của các chiến sĩ lúc khó khăn, lúc chiến thắng và cả lúc thất bại, nhưng toát lên lòng yêu nước và tinh thần quyết tâm chiến đấu và chiến thắng kẻ thù. Và tình yêu của lính, tình vợ chồng thắm thiết trong cảnh chiến tranh mà vẫn bay bổng, lãng mạn: “21-12-1953: Đêm trăng sáng chiếu vào mặt anh, mặt em- chúng mình cười nhìn nhau. Gương mặt mệt mỏi của em cũng cười. Ôm và hôn em với tất cả trong sạch, trắng đẹp như những buổi mai quang đãng, tinh khiết của ngày xuân. Anh vui sướng với mối tình nồng nhiệt chân thành ấy”. Tháng 9-1954, anh tập kết ra Bắc, để lại người vợ trẻ là nhạc sĩ Bình Trang đang mang thai đứa con đầu của mình. Năm 1962, Nguyễn Ngọc Tấn trở lại miền Nam với bút danh Nguyễn Thi, làm báo và sáng tác văn học, nổi tiếng có tác phẩm Người mẹ cầm súng. Ông quyết tâm tham gia cuộc tổng tiến công vào Sài Gòn, mong được gặp con gái đang sống với ông bà ngoại ở quận Nhất. Nhưng chiến tranh khốc liệt quá, ông hy sinh ngày 15- 5-1968 tại cầu Tham Lương, Sài Gòn, mà chưa một lần nhìn thấy đứa con gái sinh ra khi ông đi tập kết. Ông được truy tặng Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân và Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học - Nghệ thuật. Một con đường ở quận 5 mang tên Nguyễn Thi.

Từ năm 1965 trở đi, lớp lớp thanh niên lên đường “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước” học phổ thông và đại học. Theo Lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do. Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa… Chiến thắng giặc Mỹ, ta sẽ xây dựng đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”. Với niềm cảm hứng dạt dào, sôi nổi của người lính trẻ, dọc đường hành quân, giữa hai trận đánh máu lửa, bên xác đồng đội và xác thù, họ vẫn ghi chép và ghi chép. Những cuốn nhật ký thấm máu của người chiến sĩ - liệt sĩ bị thất lạc, có khi trở thành “chiến lợi phẩm” của người lính xâm lược, theo họ đi nửa vòng trái đất. “Lá rụng về cội”! Dần dần những cuốn nhật ký quý giá ấy lần lượt trở về với gia đình các liệt sĩ và trở thành những cuốn sách có một không hai.

Mùa hè 2005, hai cuốn nhật ký nối tiếp nhau ra mắt bạn đọc: Mãi mãi tuổi hai mươi của liệt sĩ Nguyễn Văn Thạc, hy sinh ở chiến trường Quảng Trị và Nhật ký Đặng Thùy Trâm của bác sĩ Đặng Thùy Trâm, hy sinh ở Quảng Ngãi, là đỉnh điểm bùng nổ về nhật ký của các liệt sĩ, đã gây “cơn sốt” đọc nhật ký. Nhật ký của Đặng Thùy Trâm là “chiến lợi phẩm” của một lính Mỹ mang về Mỹ từ 1972. Năm 2005, ông mới tìm được địa chỉ và mang sang Việt Nam, trân trọng trao tận tay gia đình chị. Đặng Thùy Trâm tốt nghiệp đại học Y khoa Hà Nội là mang ba lô vào chiến trường với nụ cười tươi trẻ. Phải có một tấm lòng yêu nghề, yêu người và một trái tim nồng hậu, một tâm hồn đa cảm, nhạy bén mới có thể ghi chép được những trang nhật ký giàu chất thực và chất văn giữa bộn bề công việc của người thầy thuốc giữa chiến trường khốc liệt, mà vẫn đằm thắm, dịu dàng. Cảnh mùa thu dưới ngòi bút Thùy Trâm thật quyến rũ: “Mùa thu chưa đến mà lá vàng chìm ngập cả không gian. Tháng bảy lại về với những cơn gió nam xào xạc thổi rung cây, từng buổi mai dịu mát và từng đêm trăng êm ả giữa rừng. Kỳ lạ thật, giữa núi rừng sao trước mắt mình cứ hiện ra một vườn hoa rực rỡ,… những ruộng lúa xanh rì với những bông lúa đã bắt đầu nặng hạt dù lửa khói đang còn cháy đỏ nhưng không cháy được màu xanh của cuộc sống”. Nhật ký Đặng Thùy Trâm đến năm 2007, đã được dịch ra 10 thứ tiếng, nổi bật nhất là tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Nga và tiếng Trung…

Tương tự, ngày 4-6-2012, tại Hà Nội, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Leon Panetta, đã trao Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam Phùng Quang Thanh cuốn nhật ký của liệt sĩ Vũ Đình Đoàn. Cuốn nhật ký này được cựu lính thủy đánh bộ Mỹ Robert “Ira” Frazure bảo quản 36 năm mới có dịp trở về gia đình ở huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương. Người con trai lớn Vũ Đình Sơn rưng rưng cầm cuốn sổ như được cầm tay bố, xúc động nói: “Mẹ tôi nghe tin có cuốn nhật ký của chồng, chờ đợi mỏi mòn, vừa qua đời 2 tuần nay”. Ông Vũ Đình Đoàn hy sinh ngày 7-3-1966 tại đồi Chóp Nón, huyện Sơn Tĩnh, tỉnh Quảng Ngãi.

Vũ Xuân, sinh năm 1946 ở Thái Nguyên. Ngày 3-7-1963, mới 17 tuổi, anh nhập ngũ. Qua hành quân và chiến đấu suốt chiều dài đất nước, Vũ Xuân hy sinh ở Rạch Giá ngày 15-5-1974. Đầu cuốn nhật ký, Vũ Xuân ghi ngày 20-4-1969: “Để có cuộc sống ấm no, cuộc sống đúng với nghĩa của nó hơn, mình đã ra đi. Mình tự hào vì Đảng nuôi chúng mình khôn lớn, chững chạc và đàng hoàng hơn, mình tự nghĩ phải sống sao trong tương lai cho xứng đáng hơn”. Ngày 12-11-1972, Vũ Xuân viết như một lời nhắn gửi cuối cùng: “Tôi chỉ muốn một câu nói vang lên bên tai thế hệ sau là “Đừng làm hoen ố máu của người đi trước!” (Nhật ký Vũ Xuân, NXB Quân Đội Nhân Dân, 10-2005). Sau 30 năm, Nhật ký Vũ Xuân về với gia đình, ra mắt bạn đọc. Nhiều bạn học sinh trường THPT Lương Ngọc Quyến- nơi Vũ Xuân học năm xưa, xúc động nói: “Anh Vũ Xuân nghĩ: Hạnh phúc được mang mồ hôi, công sức và khi cần cả máu xương cống hiến cho nền độc lập tự do của mảnh đất Việt Nam thân thương”. Chúng tôi cảm thấy mình như người mắc nợ, nợ thế hệ đi trước, nợ gia đình và xã hội, nợ chính tuổi trẻ của mình”.

Lý tưởng của thanh niên bấy giờ là được ra trận. Đang học lớp 10, năm cuối cấp 3 trường cấp 3 Nông Cống I, Thanh Hóa, Nguyễn Văn Ngãi “xếp bút” tình nguyện nhập ngũ dù anh là con trai một, cha là trung tá công an. Ngày 8-12-1970, anh viết: “Đi bộ đội tất phải chiến đấu. Trong chiến đấu sẽ diễn ra hai con đường: sống và chết vinh quang. Nếu tôi chết đó là đã hoàn thành nghĩa vụ của tuổi trai”. Ngãi ra sức rèn luyện, học tập, phấn đấu và anh sớm được thăng cấp trước thời hạn, được kết nạp Đảng. Trên đường ra trận, anh viết thư gửi về động viên bố mẹ và các em gái: “Hôm xuống ga Vinh, tận mắt chứng kiến sự họp mặt trùng phùng của mọi tầng lớp, đủ mọi binh chủng. Biển người hùng mạnh ấy sẽ đi vào chiến trường là biểu hiện sức mạnh của cả dân tộc quyết tâm thắng Mỹ…”.

Nguyễn Văn Ngãi hy sinh khi mới 19 tuổi đời, gần hai tuổi quân và một tuổi Đảng!

Kỹ sư Hoàng Kim Giao, người con thành phố hoa phượng đỏ Hải Phòng không đi nghiên cứu sinh nước ngoài mà tình nguyện đi phá bom nổ chậm ở khu Bốn. Anh đi mà giấu gia đình và dặn vợ không báo cho gia đình. Anh cùng các chiến sĩ công binh lo phá bom, và đã phá được nhiều bom nổ chậm do Mỹ ném xuống. Anh viết thư gửi vợ, những lá thư đầy ắp tình cảm của đôi vợ chồng trẻ đang nhiều hứa hẹn. Xong việc ở Quảng Bình, anh nhận lệnh đến Nam Đàn phá quả bom lớn. Anh đã cùng chiến sĩ đặt chất nổ, nhưng thấy lâu, anh sốt ruột chạy lại xem sao. Đến gần, quả bom phát nổ!! Liệt sĩ Hoàng Kim Giao được truy tặng Anh hùng lực lượng vũ trang Nhân dân và Giải thưởng Nhà nước về Khoa học Kỹ thuật. Đọc Tình sử bằng thư- những lá thư của liệt sĩ Hoàng kim Giao gửi vợ, nhà thơ Phạm Tiến Duật rất xúc động: “Đọc các lá thư tình của anh, tôi không cầm được nước mắt. Tôi xin được cảm ơn chị Lan, địa chỉ các lá thư anh Giao gửi. Anh ấy là người anh hùng và tôi cũng xin gọi chị là người anh hùng. Nếu không là thế, làm sao chị gánh nổi tình yêu lớn lao mà anh dành cho chị. Nếu không là thế, làm sao chị gánh nổi nỗi đau khi anh hy sinh. Và một phía khác, chị là người hạnh phúc nhất trên đời này vì được anh tôn trọng đến thế” (Tiền Phong, ngày 2-9-2005).

Ông bà Nguyễn Kỳ Ngộ ở thành phố Đồng Hới coi cuốn Nhật ký của liệt sĩ Nguyễn Kỳ Sơn là di sản của gia đình. Sơn là sinh viên năm thứ nhất Đại học Thủy Lợi Hà Nội, hy sinh trong chiến dịch 81 ngày đêm bảo vệ thành cổ Quảng Trị cùng biết bao liệt sĩ sinh viên các trường đại học khác. Nguyễn Kỳ Sơn ghi nhật ký từ ngày nhập ngũ 14-9-1971 đến ngày 19-8-1972, trước lúc hy sinh một tuần, bằng những vần thơ ngắn đầy khí phách: “Mười tám tuổi chỉ biết xông lên/ Đời chiến đấu chỉ hướng nhìn trước mặt/Hát quân hành vang dội Trường Sơn”.

Hoàng Thượng Lân, sinh viên khóa 1964-1967 trường Mỹ thuật Hà Nội, rời giảng đường, nhập ngũ, chiến đấu ở chiến trường Quảng Trị. Phút nghỉ ngơi sau mỗi trận đánh, người chiến sĩ, họa sĩ Hà Nội hào hoa, phóng khoáng sẵn sàng làm mọi việc giúp đồng đội, giúp dân và… vẽ, viết nhật ký. Lân ghi nhật ký từ tháng 4-1968 đến 1-5-1971. Anh và ba chiến sĩ hy sinh ngày 24-10-1971 khi đang vượt sông Xê Băng Hiên truy kích giặc. Cuốn nhật ký được gửi về gia đình như nguyện vọng của anh: “Nếu tôi có hy sinh hoặc nhỡ xảy ra chuyện gì xin gửi lại cuốn sổ này cho cha tôi: Ông Hoàng Nguyên Kỳ, nhà H4, phòng 47, khu tập thể Nguyễn Công Trứ, Hà Nội”. Tháng 9-2005, cuốn nhật ký được xuất bản với nhan đề Nhật ký tài hoa ra trận.

Học hết cấp 2, Phạm Thành Trung có năng khiếu hội họa, nên đi học vẽ mấy tháng và tích cực công tác ở địa phương, được kết nạp Đảng. Anh tình nguyện đi bộ đội, chiến đấu tại mặt trận Quảng Nam. Câu nói nổi tiếng của Lênin được anh ghi trang trọng: “Gươm giáo của kẻ địch có thể chặt đứt gang thép nhưng nó sẽ quằn lại bởi dũng khí của người cách mạng”. Cuốn sổ viết chi chít chữ và vẽ minh họa, ghi lại cuộc chiến đấu từng ngày. Ngày 19-5-1974, dưới bức tranh anh vẽ đồng đội đang cầm súng xung phong và viết: “Vì nghĩa vụ thiêng liêng của Tổ quốc, vì lợi ích và cuộc sống hạnh phúc cho mọi người, con của mẹ phải hy sinh tất cả. Mong mẹ thông cảm và mẹ hãy vui lên đi. Con muốn hạnh phúc riêng tư của con được vững chãi bền lâu thì con phải thực hiện tình yêu trọn vẹn, tức là yêu Tổ quốc, yêu gia đình”. Phạm Thành Trung ngã xuống ở chiến trường Quảng Nam ngày 2-10-1974 khi mới 21 tuổi. Cuối năm 1999, một đồng đội cũ ở Nghệ An mới tìm được người thân và gửi cuốn nhật ký của liệt sĩ Phạm Thành Trung về cho gia đình ở Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình, khi mẹ anh đã qua đời 5 năm.

Những nhà văn chiến sĩ, ra trận vừa chiến đấu vừa viết văn, họ để lại những cuốn nhật ký in ra thành cuốn sách: Nhật ký Chu Cẩm Phong (600 trang). Nhật ký Lê Anh Xuân, 500 trang, thật đáng khâm phục. Lại có những chiến sĩ chỉ là những học sinh mới học hết phổ thông nhưng giữa trận mạc, họ đã viết và viết rất kỳ công, để lại 12 cuốn sổ viết bằng mực xanh, cả ngàn trang. Đó là nhật ký của liệt sĩ Bùi Kim Đính. Riêng việc trong hành trang ra trận có súng đạn, và những thứ cần thiết mà người lính phải mang kè kè bên mình, anh Đính còn mang cả chục cuốn sổ tay, bút, mực mới thấy hết ý thức, ý chí, nghị lực tuyệt vời của người chiến sĩ trẻ. Kỷ niệm 40 năm ngày Bùi Kim Đính hy sinh, NXB Thanh Niên in nhật ký dày 645 trang mang tên Khát vọng sống và yêu. Bùi Kim Đính sinh năm 1944 tại Việt Trì, Phú Thọ, là con cả trong một gia đình có 10 người con. Được nuôi dưỡng trong một gia đình có nền nếp gia phong, Đính nhập ngũ ngày 14-4-1964, và ghi nhật ký từ ngày đó. Anh tham chiến ở mặt trận Khe Sanh và chiến dịch “Mùa hè đỏ lửa” Quảng Trị, hy sinh ngày 4-6-1972 cách thành cổ 10 ki lô mét. Khát vọng sống và yêu là những trang viết chân thực, thấm đẫm tinh thần nhân văn, nhân đạo của thế hệ thanh niên đặt tình yêu Tổ quốc lên trên hết. Ước vọng của Đính là hết chiến tranh, trở về quê hương dạy học. Để thực hiện nguyện vọng đẹp đẽ phải bỏ dở của anh, em trai Bùi Hoàng Tuấn vận động thành lập Quỹ Khuyến học mang tên Bùi Kim Đính để giúp các học sinh nghèo, vượt khó và con em cựu chiến binh nhiễm chất độc da cam được đến trường.

Nhật ký của các liệt sĩ hy sinh ở tuổi mười chín đôi mươi, cái tuổi “mới qua vòng thơ bé”, mà suy nghĩ, tình cảm và mọi việc làm đều có suy nghĩ chín chắn, có lý tưởng đúng, nên sự hy sinh của họ thật cao đẹp, thật thiêng liêng. Họ không một mảy may so đo, tính toán cá nhân. Họ ra trận với nhiệt tình sôi nổi, tâm hồn trong sáng, bản lĩnh chính trị vững vàng. Đó là cái đẹp tinh túy của truyền thống văn hóa dân tộc được kết tinh trong phẩm chất anh bộ đội Cụ Hồ.

PHAN THU HƯƠNG