Ông Tư Thuận với miền Trung

Trương Chí Cương, còn có tên Trương Kiểm, Trương Công Thuận, thường gọi Tư Cương, Tư Thuận. Khi làm Phó Bí thư Khu ủy V, ông không chỉ là người thay mặt Thường vụ Khu ủy V trực tiếp chỉ đạo “mở ra” đồng bằng, mà còn xuống tận vùng sâu bàn, cùng với cán bộ địa phương đi suốt đêm vận động quần chúng, ngày nằm hầm bí mật.

Ông từng theo đội công tác thọc xuống tới Chợ Trạm-Kỳ Sanh, vào nhà dân và hàng quán thăm hỏi, nói rõ cho bà con chủ trương của Mặt trận Dân tộc Giải phóng. Trong những lần tiếp xúc dân, nghe bà con thảo luận, cả dân và cán bộ địa phương đều muốn mở ra. Ông nói với cán bộ: Có thể mở ra, nhưng giữ được mới khó.

Giải phóng thôn Tứ Mỹ được ba ngày thì địch cho máy bay lên quần lượn đặt loa kêu ra rả: Đồng bào hãy nghe đây. Đúng 7 giờ sáng mai phải ra khỏi làng không thì sẽ bị quân lực Việt Nam Cộng hòa ném bom hủy diệt.

Để trấn an nhân dân, Huyện ủy cử cán bộ cùng Đội công tác họp dân giải thích, động viên bà con. Dân tỉnh bơ, nói:

- Các anh không sợ chết thì chúng tôi sợ chi!

Lúc này cán bộ bỗng nhớ lời ông Tư Thuận: Giữ được mới khó!

Mấy ngày sau địch cho máy bay Đacôta lên rải chất độc hóa học làm cho sắn, khoai cháy sém, rụi dần, dân tình rơi vào cảnh không có cái ăn, nhiều người lo âu, đau, sốt không đủ thuốc uống. Để giữ vững thôn giải phóng đầu tiên, chính quyền cách mạng tổ chức du kích cùng nhân dân đào hầm chống phi pháo, đào giao thông hào sẵn sàng chiến đấu, cố giữ cái thôn đầu tiên giải phóng từ trong vòng vây của địch.

pic
Tư Thuận thăm mẹ giữa chiến trường năm 1972

 

Sau khi giải phóng thôn Tứ Mỹ, xã Kỳ Sanh, Huyện ủy Tam Kỳ chỉ có tất cả 21 người. Chừng đó con người vốn đã thiếu cơm lạt muối rồi, đến khi các gia đình vợ con của cán bộ và Huyện ủy Tam Kỳ không trụ được kéo lên thì đói và đau là vấn đề nan giải. Địch đánh phá liên miên vào cái vùng giải phóng nhỏ tí, dân không sản xuất được, gạo kéo từ vùng địch lên thì vốn đã không đủ cấp cho cán bộ.

Một hôm Tư Thuận về làm việc với Huyện ủy, thấy tình hình đói đau với một không khí nặng nề, buồn thiu, ông triệu tập họp Huyện ủy mở rộng. Ông xăn tay áo lên, hỏi nghe dữ chằng:

- Tại răng Quảng Nam đói?

Đồng chí Mười Chấp trình bày đã bàn kế hoạch đưa lực lượng xuống Bình Hòa - Phú Toản sản xuất rồi.

Ông Tư Thuận cầm cái quạt, vừa quạt lia lịa vừa nói:

- Rứa thì triển khai ngay, triển khai ngay!

Sau vụ đói, tập trung lo dọn nhà, phát rẫy sản xuất thì xảy ra vụ đội thu mua B.26 của Lê Tư Đặng cung cấp rựa mà không có cán!

Chuyện rằng, lúc mới mở ra, còn dựa vào nguồn lương thực của dân tại địa phương, nhưng công cụ sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số thì rất thiếu. Anh em B.26 xuống liên hệ với bà con nhận lời mua rựa rồi thì ứng tiền trước cho bà con, hẹn ngày xuống lấy. Việc này mở ra một khả năng thu hút nông cụ và nhu yếu phẩm rất lớn.

Đội thu mua theo đội vũ trang tuyên truyền của huyện xuống dần thôn 6, thôn 5 rồi thôn 4 Kỳ Sanh để thu mua. Vùng thôn 4 là nơi tập kết hàng, nhưng từ thôn 4 đưa hàng lên vùng căn cứ thì khó. Vì vậy, ta phải tổ chức cơ sở thu mua cất giấu rồi tổ chức đưa hàng ra khỏi thôn 4, thôn 5, từ đó các đội vận chuyển xuống gùi cõng lên kho.

Do Ba Tiến cán bộ thu mua lẹo tẹo với cô Bảy Da, bị phê bình sợ quá dẫn nhau chạy xuống vùng địch, bị buộc khai báo chỗ đóng quân và kho chứa hàng của trạm thu mua, địch bất ngờ mở trận càn lớn lên căn cứ của ta. Chúng dùng trực thăng đổ quân nhanh quá, anh em cơ quan vội vã chôn số rựa vừa mua được.

Cả tháng sau, khi địch rút, quay về đào lên thì mối ăn hết cán rựa. Nghe báo cáo còn rựa nhưng không có cán, ông Tư Thuận không khen anh em đã kịp chôn hết mấy chục cái rựa trước khi kịp thoát thân thì thôi, càng không thể trách anh em làm mất cán vì lũ mối, rất bực mình, ông ngồi không yên, đứng cũng không yên, ông xăn tay áo, tay cầm cái quạt nhịp nhịp, anh em sợ quá tránh xa. Ngó quanh không thấy ai, ông kêu anh em vào, nói:

- Không biết tra cán rựa thì mang xuống làng, tìm đến mấy cái lò rèn thuê hoặc nhờ họ làm lại cán rựa cho rồi mang về nhanh chóng cấp cho bà con phát rẫy cho kịp vụ mùa… Từ đó, ông Tư Thuận còn có biệt danh ông Tư Quạt.

pic
Với cháu nội

 

Bà Tăng Thị Kim Xuyến người Phan Rang, khi làm vợ ông Tư Thuận, bà Xuyến còn có tên là Hòa. Một đôi Hòa - Thuận!

Bà Hồng Hoa từng làm Chủ tịch xã Tứ Mỹ giải phóng, là vợ ông Bốn Hương - Bí thư Tỉnh ủy Quảng Nam, từng có 6 tháng ở trong một nhà với bà Hòa khi cơ quan của Khu ủy đóng ở vùng giáp ranh Trà My và Tam Kỳ. Một hôm, chị em đi cấy, bị đỉa cắn, bà Hòa sảng kinh la trời:

- Hoa ơi, mày bắt con đỉa cho chị cái! Bà Hoa đưa tay rứt con đỉa ném lên bờ...…

Cứ mỗi khi bị đỉa bu chân là bà Hòa kêu người bắt giùm. Cái đất lúa uống nước nhĩ ven chân núi bước chân xuống là đỉa bu liền. Đúng là bu như đỉa đói! Một hôm bị đỉa bu, kêu không ai cứu thế là con đỉa không chịu rời cái bắp chân, máu cứ rỉ ra... cho đến khi con đỉa no tròn mới chịu nhả bắp chân của bà Hòa. Nhớ chồng, nhớ con, ngồi tâm sự, bà Hòa hỏi bà Hồng Hoa:

- Sao mà em dạn thế?

Bà Hồng Hoa cười nói:

- Người mà em còn không sợ, kể chi ba con rắn, con đỉa. Không biết quê Phan Rang của chị có ác liệt không, con người có dã man không chứ quê em, cái xứ Quảng Nam này thì anh hùng cũng nhiều mà phản động cũng không ít.

Năm ấy, vào mùa cấy, sáng sớm đã lội xuống đồng, chiều tối mới rời đồng. Vừa chập choạng tối, đang giữa đường, quần còn xăn lên tận đầu gối, bất ngờ ba bốn tên chận lại trói tay chị em dẫn về cơ quan hội đồng xã. Chúng bắt một lúc năm sáu chị em, chị Cần, chị Hường, chị Ba Tư, chị Bốn Chừ, ông Kiện, một cựu đảng viên nhưng ta cử vào làm ấp trưởng. Đi đường kéo tay chị em dặn nhau cố chịu đau không khai thì mau về.

Thế rồi chúng kêu em lên, lột hết áo quần, đè xuống đổ nước xà phòng vào miệng, đổ đến thùng nước thứ hai thì bụng em phình to, một thằng nhảy lên bụng nhún, nước trào ra miệng, chúng lại đổ tiếp một thùng nữa, một thằng lại nhảy lên bụng đạp. Đến thùng nước thứ ba thì em ngất xỉu, không còn biết trời trăng mây gió chi hết.

- Tại răng chúng ập ra ruộng bắt? - Bà Hòa thật lòng hỏi.

- Tại chị Cần đi làm bỏ quên tập thơ Tố Hữu trên giường, chúng nó đến nhà thấy. Thế là lộ tè le, bắt tùm lum...…Chúng cho em uống nước no nê, ném em vào góc phòng. Sáng tỉnh dậy, em thấy...…chị biết không, có con mô, chị mô bị chúng bắt vô mà không lột áo, trụt quần ra để… tra đâu chị. Cái bọn người như thế mà chị bảo bọn em không căm tức và không dạn thì làm sao sống nổi!

Cuối năm 1955, Tư Cương rời cương vị Bí thư Tỉnh ủy Quảng Nam - Đà Nẵng ra Bắc. Tháng 7/1959, ông về lại Khu V. Cuối năm 1966, ông lại ra Bắc. Đầu năm 1967, từ thủ đô Hà Nội, bà Hòa chia tay ba người con thân yêu là Chí Hải, Chí Hòa và Kim Hà, theo chồng vào chiến trường Khu V, tham gia công tác ở Hội Phụ nữ Khu V.

pic
Với cán bộ Khu V ra thăm miền Bắc

 

Năm 1968, khi ông Tư Thuận là Phó Bí thư Khu ủy V, kiêm Bí thư Đặc khu ủy Quảng Đà, bà Hòa là ủy viên Ban chấp hành Hội Phụ nữ Khu V, nhận nhiệm vụ chỉ huy phó một cánh quân Đấu tranh chính trị.

Trong chiến dịch Tết Mậu Thân 1968, bà Hòa không vào cánh quân xuống Phan Rang mà theo cánh quân vào thị xã Tam Kỳ. Trước mấy ngày xuất quân vào thị xã, bà Hòa bị quân Mỹ tập kích, hy sinh ở Kỳ Mỹ - Tam Kỳ! Sau chiến dịch Mậu Thân, ông Tư Thuận đang chủ trì hội nghị tổng kết chiến dịch Xuân Mậu Thân thì bất ngờ biết tin vợ ông đã hy sinh!

Ngày 22/2/1975, ông Tư Thuận rời bệnh viện của Cộng hòa Dân chủ Đức về đến Hà Nội, liền được đưa vào Quân y viện 108. Những ngày trọng bệnh nằm trong bệnh viện, ông rất vui khi nghe báo tin quân ta đã giải phóng Buôn Ma Thuột, đang tiến công như vũ bão giải phóng các tỉnh thuộc Khu V của ông...… Ông nằm, rất vui vì tin thắng trận dồn dập đưa về, và cũng đượm buồn, vì ông không thể đứng dậy chỉ huy một mũi tiến công mà phải nằm chờ tử thần đến đón ông.

Sáng ngày 24/3/1975, ngày quân giải phóng ồ ạt tiến công vào thị xã Tam Kỳ cho đến gần trưa thì cờ giải phóng tung bay trên cột cờ tỉnh đường ngụy Quảng Tín. Tam Kỳ được hoàn toàn giải phóng thì tối hôm đó, ông Tư Thuận trút hơi thở cuối cùng tại thủ đô Hà Nội!

Ông có biết không, người con gái đầu Chí Đức của ông, cha con chưa một lần thấy mặt nhau, khi nghe tin Đà Nẵng, thành phố mà mùa xuân 1968 ông quyết vào nhưng không vào được, đã được giải phóng ngày 29/3/1975, cô gái đã một mình chạy bộ từ Phan Rang quê ngoại, đang ầm ầm đạn bom, ra Đà Nẵng quê nội để tìm ba!