Nguyên Hồ - Con sông ca dao dào dạt sức nước

Ngay sau ngày Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công, ở làng Phú Lộc - huyện Tuy Hòa - tỉnh Phú Yên, cậu thiếu niên Hồ Công Hãn, 16 tuổi, được giao nhiệm vụ làm giáo viên bình dân học vụ kiêm công tác thông tin tuyên truyền của làng.

Những vần thơ anh viết đầu tiên là để vận động bà con đi học, xóa nạn mù chữ:

Người mà viết thạo đọc thông

Như diều gặp gió, như rồng gặp mây

Người mà chữ nghĩa chẳng hay

Như trong ngục tối tường vây bốn bề.

Trong làng, có anh Võ Lộng, nhà có của ăn của để nhưng rất ngại đi học. Hãn lân la mời Lộng đi học. Lộng không đi, còn bảo: “Mày có nhiều chữ sao không có nhiều lúa gạo như tao?”. Hãn lặng lẽ rút lui, về nhà suy nghĩ viết:

Ai giàu thóc lúa đầy kho,

Mà không biết chữ như cò ăn đêm

Cò ăn đêm, cành mềm cò đỗ

Sảy chân, cò lộn cổ xuống ao

“Ông ơi ông vớt tôi nao

Cho tôi được vào lớp học bình dân”…

Ca dao, “thơ vườn” của anh có tiếng vang đến huyện, tỉnh. Anh được điều lên công tác ở Ty Thông tin-Tuyên truyền tỉnh, tham gia làm nhiều việc, kể cả vẽ tranh, làm thơ thuyết minh tranh đèn chiếu…

Vận động bà con tiết kiệm trong ngày giỗ, Tết, anh vẽ cảnh một người khăn xếp, áo dài đứng khấn trước bàn thờ, có chú mèo lấp ló đằng sau mâm cỗ, với lời thuyết minh:

Bày chi cỗ tiệc linh đình

Ta khấn phía trước, mèo rình phía sau

Ông bà, nào có thấy đâu

Chỉ thấy sắm sửa tốn hao quá chừng

Thành tâm cốt ở tấm lòng...

Hàng loạt ca dao của anh cổ động bà con nộp thuế nông nghiệp, bảo quản kho tàng được phổ biến nhanh chóng, rộng rãi:

Gà ri nhắc nhở gà rằn

Lúa thuế nông nghiệp đừng ăn, mẹ ngầy

Lúa này là lúa đánh Tây

Mày ăn một hột là mày hại dân...

Năm 1952, đánh dấu một bước tiến mới của ca dao Nguyên Hồ – bút danh của Hồ Công Hãn. Giặc Pháp ném bom phá hoại đập Đồng Cam làm cho hàng vạn hécta ruộng lúa của huyện Tuy Hòa bị khô héo. Cả tỉnh dồn sức đắp lại đập. Nguyên Hồ “đi thực tế”, sống với bà con lao động tại công trường. Ông sáng tác “kịp thời” ngay tại chỗ hàng trăm câu ca dao, biểu dương gương tích cực, phê phán những việc làm kém hiệu quả, lãng phí.

Thấy quá nhiều chàng trai, cô gái đứng cầm đèn soi cho dân công, lao động, trong khi nhiều người khác làm không hết việc, ông dùng loa đọc các câu “ứng khẩu”:

Chặt cọc mà mắc đèn vô

Để chi phải tốn một cô cầm đèn

Chặt cọc mà móc đèn lên

Tại sao phải bắt một em xách đèn…

Hàng tràng tiếng cười rộ lên hưởng ứng và người ta đã chặt cọc, móc đèn, tiết kiệm nhiều lao động.

Phê phán những hiện tượng lánh nặng, tìm nhẹ, chây lười, ông viết:

Ăn chình mới biết chình tanh

Gần anh mới biết rằng anh giống chình

Nhớt xương, nhớt thịt, nhớt mình

Đả thông chẳng được, phê bình chẳng nghe

Yêu anh, hổ với bạn bè

Phen này em quyết trả chè, không ưng…

Trong kháng chiến chống Pháp, Liên khu 5 bị bao vây bốn mặt. Một nguyện vọng tha thiết của nhân dân là được nhìn thấy Bác Hồ, nhưng làm sao gặp được Bác. Một số đại biểu ra Việt Bắc dự đại hội liên hoan anh hùng, chiến sĩ thi đua trở về kể chuyện say sưa về Bác khiến nhiều người càng háo hức muốn được trực tiếp thấy Bác. Nguyên Hồ làm ca dao động viên bà con:

Có thương có nhớ Bác Hồ

Đừng ngồi mà đợi Bác vô, lâu ngày

Thi đua cho giỏi cho hay

Rồi về Việt Bắc nắm tay Bác Hồ

Trong này mình đợi Bác vô

Ngoài kia Bác cũng đang chờ mình ra!

Tháng 9-1954, quân Ngô Đình Diệm đến đóng ở Chí Thạnh, Ngân Sơn (tỉnh Phú Yên). Chúng tàn sát dã man 150 đồng bào ta. Nguyên Hồ đã lập tức viết ca dao tố cáo tội ác của giặc:

Ngó về Chí Thạnh, Ngân Sơn

Núi không cao lắm, căm hờn ngút cao

Ai ơi có nhớ hôm nào

Quân Ngô Đình Diệm bắn vào dân ta

Giáo lương, trai gái, trẻ già

Máu pha chung máu, thây hòa chung thây

Bến sông Phường Lụa còn đây

Hồn chồng còn đó hận này nào quên!

Ông còn làm nhiều ca dao, thơ vận động binh lính ngụy trở về với nhân dân. Bài thơ Chờ mong anh về được in rải vào đồn địch. Một số lính ngụy bỏ hàng ngũ địch trở về với nhân dân, mang theo bài thơ này làm “giấy thông hành” đi ra vùng ta kiểm soát, trở thành sự kiện nổi bật đáng ghi nhớ trong lịch sử công tác địch vận ở tỉnh Phú Yên.

Năm 1955, tập kết ra miền Bắc, ông công tác trong ngành văn hóa-thông tin. Nhiều năm làm Phó Giám đốc Nhà xuất bản Phổ Thông, Phó Tổng biên tập Tạp chí Văn Hóa - Nghệ Thuật, Bộ Văn hóa. Ngoài công tác quản lý, ông vẫn tiếp tục sáng tác với bút lực dồi dào.

Rất nhiều bài thơ, ca dao của ông chống các tệ nạn xã hội sáng tác hơn nửa thế kỷ trước, đến nay vẫn còn nguyên giá trị, có sức lan tỏa, nhiều người thuộc:

Muộn chồng sao trách ông tơ

Muộn con sao lại đổ cho Phật, Trời?

Bụt ngồi trên bệ Bụt cười

Bụt làm chi được mà người cầu con

Cuối cùng vẫn vợ chồng son

Tiếc công lạy Bụt cho mòn chiếu sư!

*

Ruộng sâu con nghé đi bừa

Vợ hai mươi tuổi, chồng vừa mười ba

Ra đường thiên hạ dèm pha

Rằng không cô cháu cũng là chị em.

* * *

Nhà thơ Chế Lan Viên từng nhận xét: “Nguyên Hồ, cây bút lão luyện ca dao hồi kháng chiến nay vẫn dẻo dai và càng khởi sắc” (Tạp chí Văn Học, 7-1961).

Ông đã nhận được nhiều giải thưởng lớn về ca dao: Giải thưởng Phạm Văn Đồng (1953), Giải thưởng Nhà xuất bản Phổ Thông (1961), Giải thưởng Báo Văn Học (1962) v.v…

Ngoài sở trường về ca dao, Nguyên Hồ còn là kiện tướng diễn ca, truyện thơ. Truyện thơ Cô gái Phú Yên dài 2.376 câu lục bát là một bản trường ca có tiếng vang sâu rộng. Nhiều cán bộ miền Nam tập kết ra Bắc hồ hởi đón đọc. Nhà thơ Nguyên Đình viết trên báo Thống Nhất (6-1963): “Qua phong trào kết nghĩa Bắc Nam đầy tình cảm chân thành và thắm thiết, đọc Cô gái Phú Yên của Nguyên Hồ, người cán bộ miền Nam rất sung sướng gặp lại ở đây hình ảnh nơi chôn nhau cắt rốn, đã cảm động trước cảnh buồn vui của nhân vật như chính bà con, bạn bè, đồng chí của mình ở bên kia giới tuyến”…

Bài ca dâng Đảng của ông viết nhân dịp kỷ niệm 40 năm ngày thành lập Đảng, đầu năm 1970, dài 814 câu được đăng trọn trên các báo Nhân Dân, Quân Đội Nhân Dân trong ngày 1-1-1970, được đông đảo bạn đọc ngợi khen, nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát đã trích nhiều câu để phổ nhạc.

Tác phẩm của Nguyên Hồ rất đồ sộ. Hầu hết được in lần đầu với số lượng lớn và được tái bản nhiều lần: Đường hạnh phúc in ngay lần đầu 40.000 bản (NXB Phổ Thông), Ngọc càng mài càng sáng 30.000 bản (NXB Phụ Nữ), Bài ca dâng Đảng 100.000 bản, Cô gái Phú Yên 11.000 cuốn, trường ca Đất nước vào xuân hơn 1.000 câu, in 25.000 cuốn (NXB Phổ Thông) v.v…

Thơ, ca dao của ông được lựa chọn in vào các tuyển tập thơ văn ở trung ương và địa phương và vào sách giáo khoa. Ông còn là nhà thơ trào phúng đã in hàng trăm bài thơ, câu đối, châm biếm, đả kích dí dỏm, sâu sắc, là cây bút hàng đầu trong “Làng cười” Nha Trang một thời.

Thơ, ca dao Nguyên Hồ đáp ứng rất kịp thời những yêu cầu trước mắt của công cuộc kháng chiến, xây dựng đất nước, xây dựng con người, đồng thời có giá trị lâu dài vì lời hay, ý đẹp rất tự nhiên như lời nói của nhân dân nhưng cũng rất chuyên nghiệp, trau chuốt, lưu loát, giàu hình ảnh, rất hấp dẫn, dễ đi vào lòng người. Đọc ông, nhất là những truyện thơ nhiều nghìn câu, có cảm tưởng văn thơ ông như dòng chảy dào dạt của con sông bắt nguồn từ nhiều con suối dồi dào sức nước.

Nhà văn Hoài Thanh từng viết: “Thơ hay thì người ta đọc thuộc. Tác phẩm của Nguyên Hồ được nhiều người đọc và nhớ”. Có người sau 20 năm xa cách, gặp lại ông, đã đọc những câu ca dao, đoạn thơ ông viết từ thời kháng chiến chống Pháp mà chính ông cũng không còn lưu giữ được và đã quên, khiến ông rất cảm động.

Trong bài Cây ca dao của một thời (Văn Nghệ, 2-7-2011), nhà văn Nguyễn Gia Năng có nhận xét: “Sống mẫu mực, tình cảm, nhân hậu, thủy chung, viết chân thực hết mình với tình yêu chân thành sâu sắc nhất với Đảng, với Bác Hồ, với nhân dân, kết đọng trong từng con chữ, câu thơ giàu bản sắc dân gian truyền thống nhưng luôn luôn tươi mới là đặc điểm nổi bật của nhà thơ Nguyên Hồ”.