Ngày về thơm bụi trường chinh

Những năm đầu kháng chiến chống Pháp ở Nam Trung Bộ, giữa lúc các nhà thơ quen biết trước cách mạng tháng Tám đi kháng chiến, có sáng tác kịp thời phục vụ cách mạng, kháng chiến như: Khương Hữu Dụng, Tế Hanh, Yến Lan, Nguyễn Văn Lãng v.v… xuất hiện một số người làm thơ trẻ rất nhiệt tình, đầy triển vọng, trong đó có nổi bật một bút danh thơ sáng láng: Lưu Trùng Dương.

Ông sinh năm 1930 ở thành phố Đà Nẵng, tên khai sinh là Lưu Quang Lũy; đang học ở trường Bưởi, Hà Nội, thì toàn quốc kháng chiến. Trên đường về, thành phố Đà Nẵng bị giặc Pháp chiếm, ông đi thẳng vào vùng tự do ở Quảng Ngãi, trở thành “anh bộ đội Cụ Hồ” ở tuổi 17, cầm bút chiến đấu trên mặt trận báo chí, văn nghệ, làm phóng viên mặt trận cho các báo Luyện Quân, Vệ Quốc Quân Liên khu 5.

Sống trong thực tế sinh động tràn đầy khí thế chiến đấu chống giặc ngoại xâm, xây dựng hậu phương của quân và dân ta, với lòng yêu nước tràn đầy và năng khiếu bẩm sinh, ông vừa viết tin, bài cho báo, vừa sáng tác liên tục nhiều bài thơ phục vụ nhân dân, quân đội. Chỉ trong vài năm, ông đã viết mấy chục bài thơ in thành: Tập thơ của người lính xuất bản năm 1949 ở Liên khu 5. Tập thơ vừa ra mắt bạn đọc đã gây tiếng vang rộng rãi, được đón chào nồng nhiệt. Hai nhà thơ Tế Hanh và Hồ Hoàng Thanh viết bài trên tạp chí Văn nghệ Miền Nam và báo Vệ Quốc Quân khu 5, đánh giá cao nội dung tư tưởng và nghệ thuật. Các bài Ngày về, Làng tôi vừa được in trên báo là có nhiều người đọc thuộc.

Ở La Hai, tỉnh Phú Yên, nơi bộ đội thường đến đóng quân ở nhà dân rồi lại ra đi, bài Làng tôi của Lưu Trùng Dương được chọn đọc trong “Đêm văn nghệ” ở địa phương, bà con vỗ tay nhiệt liệt khi nghe đọc:

… Làng tôi phẳng lặng như bờ nước ao …

Sớm kia bỗng tự phương nào

Một đoàn bộ đội kéo vào làng tôi

Từ nay thay cả bầu trời

Từ nay là những ngày vui khôn cùng.

Làng nô nức, xóm tưng bừng

Đồng quê hớn hở tưởng chừng trẻ ra.

Từ khi bộ đội đi rồi

Là thôi, đi cả nỗi vui của làng

Nhà buồn hóa rộng thênh thang

Hàng tre nghiêng xuống, con đàng vắng tanh

Rời nhà, ra đi kháng chiến, dù “đâu có sá chi ngày về” như một lời nhạc của Phan Huỳnh Điểu, ai cũng mong có một ngày về trong vinh quang của kháng chiến thành công, nước nhà hoàn toàn độc lập. Với lòng tin sắt đá, óc tưởng tượng phong phú, Lưu Trùng Dương viết Ngày về từ năm 1949 mà 26 năm sau, những dòng thơ của ông như một bài phóng sự viết về Đà Nẵng ngày giải phóng cuối tháng 3 năm 1975:

Đã đến ngày về của đoàn quân bách chiến

Hỡi đất thân yêu có nghe lòng xao xuyến?...

Bước bước thênh thang, nhà nhà lưu luyến,

Đoàn quân đi giữa phố ấm, đường tình,

Đoàn quân về thơm ngát bụi trường chinh.

Đoàn quân lướt giữa hai bờ yêu mến:

Này mẹ đón lễ đường!

Này em mừng góc phố!

Này đây là người nhớ!

Này nữa là người thương!

Và cờ phất ven tường!

Và cờ reo cửa sổ!

Và cờ quyện khói hương!

Và cờ nghiêng nức nở!...

Nhạc chuyển. Đường rung. Hoa bay. Cửa mở.

Này bánh, này quà, này lệ, này hương

Vạn tình thương chen lớp lớp bên đường.

Tung xiềng xích, một mùa xuân vụt nở…

Tế Hanh viết: “Chỉ với một bài Ngày về Tập thơ của người lính đã đứng được”.

Một hôm, vào năm 1952, tôi và nhà thơ Nguyên Hồ đi bộ ngang qua ga Chí Thạnh đã bị phá hoại (tiêu thổ để kháng chiến), “tường xiêu, mái đổ, tan hoang”, tôi giục Nguyên Hồ đi nhanh vì khoảng trời này trống, lỡ máy bay địch đến sẽ không có chỗ núp. Nguyên Hồ bình thản nói: “Cứ nán lại ít phút để cái ga bị phá hoại đỡ buồn như ông Lưu Trùng Dương đã cất lời than hộ nó:

“Tôi không đau bởi điêu tàn

Mà cay đắng bởi phũ phàng lãng quên”

(Lời một nhà ga bị phá hoại, 1949)

Thơ Lưu Trùng Dương được nhiều người đọc, nhớ, thuộc và sử dụng trong hoàn cảnh thích hợp. Đặc biệt, ông có bài thơ nổi tiếng Mấy lời tâm huyết gửi người lính ngụy viết ở mặt trận Quảng Nam – Đà Nẵng trong chiến dịch Hè-Thu 1952:

“Chim không đánh chim cùng một tổ

Trâu một chuồng không nỡ húc nhau

Cùng chung một giọt máu đào

Anh còn nhớ nước, nước nào quên anh!

…”

20 câu thơ mộc mạc, chân thành, không một chút hào hoa, bóng bẩy mà như mật rót vào tai người lính ngụy, khiến nhiều người nhận ra chính nghĩa, dao động tinh thần, bỏ hàng ngũ địch trở về với nhân dân. Một số người đem theo truyền đơn có in bài thơ của Lưu Trùng Dương để trình ra khi bị dân quân kháng chiến xét hỏi. Đó là một hiện tượng hiếm có ở chiến trường Khu 5 mà ban binh, địch vận khu đã nhiệt liệt biểu dương bài thơ Mấy lời tâm huyết gửi người lính ngụy của Lưu Trùng Dương và bài Chờ mong anh về của Nguyên Hồ (một bài thơ binh vận ở mặt trận Phú Yên).

Cuối năm 1973, tôi từ chiến trường Khu 5 ra Bắc chữa bệnh. Trên đường Trường Sơn, rất bất ngờ, tôi gặp Lưu Trùng Dương từ Hà Nội vào. Đã hơn mười năm xa cách, nay được gặp giữa rừng sâu núi thẳm, hai người vô cùng xúc động, chảy nước mắt. Trời sáng, chúng tôi xuống suối tắm. Lưu Trùng Dương vốn người gầy, sau nhiều ngày vượt Trường Sơn vất vả, mệt mỏi nên càng gầy thêm. Anh cởi bộ quần áo bà ba màu cứt ngựa - loại trang phục cho cán bộ đi B thời ấy. Tôi thấy áo may ô của anh đã cũ, rách mấy chỗ, tôi cởi chiếc may ô còn mới của mình đưa cho anh. Anh ngần ngại không muốn nhận. Tôi nói: Lũy vào chiến trường còn lâu mới có được may ô mới, mình ra Bắc sẽ tậu ngay được áo mới. Hai người trao áo cho nhau. Anh ôm chặt tôi, nói vui: “Yêu nhau cởi áo cho nhau”.

Hai người chia tay giữa rừng. Anh tiếp tục cuộc hành trình vào con đường đầy gian khổ, hiểm nguy. Đến cơ quan khu một thời gian ngắn, anh đi công tác thực tế xuống huyện, xã, vào Quảng Ngãi, đến tận Bình Định đang bị địch càn quét đánh phá liên miên. Anh trở lại thăm những nơi mà anh đã từng ở gần 20 năm trước, nơi anh “đã cảm nhận được bao tình sâu nghĩa nặng của nhân dân và từ đó hiểu rõ ý nghĩa thiêng liêng sâu sắc của cuộc chiến đấu và làm thơ mà mình đã tự nguyện dấn thân vào”. Anh đi thăm từng nhà trong thôn xóm, xiết đỗi bồi hồi cảm xúc khi các bà mẹ, các cụ già, không những chỉ nhận ra anh mà còn nhớ tên, hỏi tên từng người bạn anh đã đóng quân ở đây trước ngày đi tập kết, 1954. Đứng bên gốc dừa đã chết, sờ tay vào vết đạn trên cây dừa, những vết đạn mà bà con kể lại rằng bọn giặc vẫn tiếp tục gây ra khi cây dừa chỉ còn lại một nửa thân mình. Anh muốn nói với cây dừa, với rừng dừa Bình Định một điều tâm huyết nhưng anh “không thể nói nên lời”.

Lần ấy, anh không nói nên lời, nhưng anh đã tiếp tục nói bằng tác phẩm thơ văn báo chí.

Hơn 60 năm cầm bút, anh “bộ đội Cụ Hồ” Lưu Trùng Dương đã sáng tạo nên được một khối lượng tác phẩm đồ sộ gồm 20 tập thơ, trường ca, truyện thơ, kịch thơ, 14 tập văn xuôi (bút ký, truyện ngắn, tiểu thuyết). Anh đã được rất nhiều giải thưởng: Giải thưởng Phạm Văn Đồng ở miền Nam Trung Bộ (1952), giải thưởng của Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các hội Văn học Nghệ thuật Việt nam (2001), giải thưởng Nhà nước về văn học Nghệ thuật và nhiều phần thưởng cao quý khác.

Rất nhiều bạn đọc hâm mộ viết thư cho tác giả, đăng báo, bày tỏ lòng biết ơn vì thơ anh “làm hành trang cho người lính, như viên thuốc đến với cơn đau”, “như điểm tựa tâm hồn”, “nâng người qua vực thẳm, “cho người lính ngụy làm giấy thông hành từ bóng tối bước vào vùng ánh sáng” …

Nhớ lại lần đầu, đọc bài Ngày về, tôi bị cuốn hút bởi những vần thơ khỏe khoắn, mãnh liệt, ý tưởng sâu sắc, lòng tin vững chắc vào thắng lợi của sự nghiệp kháng chiến chống ngoại xâm, sự gắn bó máu thịt giữa “anh bộ đội Cụ Hồ” với nhân dân, tôi nảy sinh cảm nghĩ viết về anh:

Ngày về thơm bụi trường chinh

Trùng Dương thấm đẫm mối tình quân dân.