Nhớ món bánh lá ngày xưa

Có lẽ không bao giờ tôi quên được nạn đói năm 1977-1978. Khi đó vùng Tiền Giang, Bến Tre, Gò Công... bị hạn hán và nạn rầy nâu phá hoại hoa màu 2 đến 3 năm liền. Thế là người dân các tỉnh này kéo xuống Bạc Liêu kiếm gạo đông nghịt. Họ đi trên những chiếc ghe, chở theo tủ, giường... xuống Bạc Liêu, Cà Mau... đổi gạo hoặc đi làm thuê lấy gạo.

Nhiều cô gái đẹp như bông bưởi chỉ đổi có 10 giạ lúa cho những thằng cha xấu hoắc... Đó lại là thời kỳ bao cấp, không ai được tích trữ lúa gạo. Vậy là vùng Bạc Liêu gạo lúa chợ đen tăng giá vùn vụt rồi khan hiếm đến phát sợ. Thế rồi, không chỉ có dân vùng trên mà dân miệt dưới cũng lâm vào cảnh đói gạo. Nhà tôi 7, 8 miệng ăn mà chỉ có hai lon sữa bò gạo độn khoai lang, khoai mì vào nấu chung. Ban đầu ăn thì thấy cũng ngon lắm, nhưng ăn riết rồi cũng ngán. Hồi đó tôi 17, 18 tuổi, là tuổi ăn, ăn bao nhiêu khoai thay cơm rồi mà vẫn còn nghe đói, đêm nằm bụng cứ sôi réo, cơn đói hành hạ khổ sở.


Đồng ruộng miền Tây Nam Bộ. Nguồn: Internet.

Tình cảnh gia đình như vậy nên anh em tôi bung ra làm ăn. Tôi thì đi chạy máy cày tay mướn cho nhà cô ruột với lương tháng rất ít. Anh Ba tôi thì đi giữ vịt đẻ cho người ta. Mấy đứa em tôi cũng bỏ học ở nhà phụ giúp ba má tôi bứng rễ trâm bầu miếng rừng chồi sau nhà để cấy lúa. Hồi đó, Nhà nước chủ trương “tất cả cho cây lúa” cũng đúng thật. Người ta khai thác tất cả biền, xẻo... bỏ hoang để cấy lúa. Nhưng ngày đó chưa có kỹ thuật canh tác nên lúa cứ thất bát liên miên.

Năm đó, ba tôi cấy giống thần nông đỏ trên miếng đất cao mới dọn bỗng trúng mùa. Tháng 11 Âm lịch gió chướng sồng thổi về mát mẻ đất trời, nhìn những bông lúa trĩu hạt ba mẹ tôi mừng lắm. Bữa cơm lúa mới đầu tiên dọn lên ăn mới ngon làm sao, hạt cơm dẻo thơm đến nức cả mũi. Má tôi nhắn các con về rồi bà dùng gạo mới xay bột làm bánh cho các con ăn.

Hồi đó, vừa đói cơm lại đói cả bánh trái. Má tôi đi chợ về mua cho mỗi đứa một thẻ đường, bọn tôi cầm thẻ đường vàng nghệ trên tay không dám cắn, chỉ mút nhè nhẹ. Má tôi làm bánh lá, đó là một loại bánh dùng bột gạo nặn mỏng dính trên chiếc lá dừa nước rồi đem hấp cách thủy. Sau đó lấy ra, dùng kéo cắt nhỏ cho vào đĩa có sẵn gỏi dưa leo và chan lên một ít nước mắm chua với nước cốt dừa. Thế rồi anh em chúng tôi kẻ lớn tồng ngồng, người còn nhỏ xíu chụm đầu lại vừa chan vừa húp soàn soạt. Chúng tôi ăn đến 3, 4 đĩa, ăn đến đổ mồ hôi. Má tôi ra hè kéo vạt áo lau nước mắt, bà khóc vì đã lâu rồi bà mới thấy các con tề tựu ăn ngon một bữa.

Sau này ba má tôi qua đời, anh em tôi lớn lên mỗi người mỗi ngả, đứa thì làm quan, đứa khác lại làm giàu thường được ngồi trên những bàn tiệc đầy cao lương mỹ vị. Vậy mà tất cả đều nhớ như in cái món bánh lá ngày xưa của má. Có cảm tưởng như đó là món ngon nhất của đời mình. Cái món bánh lá ấy nó đeo đẳng cùng năm dài tháng rộng để nhắc nhở tình tấm mẳn và nó cảnh báo, răn đe chúng tôi về thái độ đối với hạt gạo.