Nhớ “một nữ sĩ có tài và có gan”

Nhà nghiên cứu Thiện Mộc Lan (1) gọi điện từ Sa Đéc: “Xin báo cho anh một tin đã cũ nhưng vẫn còn mới. vì đã xảy ra cách nay 6 năm rồi, nhưng mới vì một người bạn bên Pháp vừa tin cho tôi biết chiều nay. Đó là nữ sĩ Nguyễn Thị Manh Manh đã qua đời ngày 26/1/2005 tại một nhà dưỡng lão ở Paris”.

Tôi tính nhẩm: thế là nữ sĩ thọ 92 tuổi. Cách nay ngót 80 năm, khi chưa tròn tuổi đôi mươi, chị đã nổi danh trong làng thơ, làng báo cả nước, từng đăng đàn diễn thuyết từ Nam ra Bắc. Thế nhưng, trong đời tư, chị gặp nhiều chuyện buồn, nên đầu năm 1950, chị lặng lẽ rời quê hương, sang Pháp sống mai danh ẩn tích, cắt đứt mọi liên lạc với người quen trong nước. Từ đó, không ai biết tin tức gì về chị…

*

Chị tên thật là Nguyễn Thị Kiêm, quê ở Gò Công nhưng sinh tại Sài Gòn ngày 3/1/1914. Chị học trường Áo Tím ở Sài Gòn (nay là trường Trung học phổ thông Nguyễn Thị Minh Khai).

Sau khi thi đậu bằng Thành chung (1932), chị bước vào làng báo, cộng tác với các tờ Phụ Nữ Tân Văn (1933-1934), Nữ Lưu, Công Luận, Việt Nam (1936), Tuần Lễ Nay (1940)…

Tên tuổi chị được nhiều người biết tới khi chị diễn thuyết tán thành thơ mới.

Thơ mới được Phan Khôi “trình chánh giữa làng thơ” trên tờ Phụ Nữ Tân Văn số 122 ngày 10/3/1932. Theo ông Phan, “thơ cũ bị câu thúc quá nên mất chơn” (mất tính chân thật), vì vậy, ông bày ra thơ mới để “đem ý thật có trong tâm khảm mình tả ra bằng những câu có vần mà không bó buộc bởi niêm luật gì hết” (2). Lúc mới ra đời, thơ mới được nhiều người hoan nghênh nhưng cũng có không ít người đả kích. Làng thơ bị chia đôi.

Tối 26/7/1933, tại trụ sở Hội Khuyến học Sài Gòn, Manh Manh diễn thuyết về thơ mới. Bác sĩ Trần Văn Đôn, Hội trưởng Hội Khuyến học Sài Gòn, phát biểu: “Lịch sử Hội Khuyến học 25 năm trời, lần này mới có nữ sĩ đăng đàn diễn thuyết” (3).


Báo Phụ Nữ Tân Văn số 211, ngày 10/8/1933. Ảnh: Thiện Mộc Lan.

Hai nhà phê bình văn học Hoài Thanh và Hoài Chân nhận xét: “Cũng lần thứ nhất có một cuộc diễn thuyết được đông người nghe như thế” (4). Tôi xin nói thêm: đây là diễn giả đầu tiên bênh vực thơ mới, vì mãi 1 đến 2 năm sau mới có người khác lên tiếng (5). Nữ sĩ xứng đáng với danh hiệu “nữ tiên phong thơ mới ở Nam Kỳ” (và trên cả nước) mà báo Mai phong tặng (6). Buổi diễn thuyết có tiếng vang lớn. Bà Nguyễn Đức Nhuận, người sáng lập Phụ Nữ Tân Văn, kể lại: “Trong hơn một giờ, Nguyễn nữ sĩ chỉ ứng khẩu, nói như nói chuyện thường… Một người thiếu nữ đứng trước gần ba trăm thính giả nam nữ mà giảng về thơ…” (7). Nhà nghiên cứu Thẩm Thệ Hà khen Manh Manh “diễn thuyết lưu loát, hùng hồn, đôi khi châm biếm duyên dáng, tế nhị, có khả năng lôi cuốn, thuyết phục người nghe” (8).

Phái bảo vệ thơ cũ phản công. Cũng tại trụ sở Hội Khuyến học Sài Gòn, các ông Tân Việt (8/1933), Nguyễn Văn Hanh (9/1/1935) hết lời chê bai thơ mới, ca ngợi thơ cũ.

Ngày 16/1/1935, Manh Manh cùng Nguyễn Văn Hanh rủ nhau lên diễn đàn Hội Khuyến học Sài Gòn để công khai tranh luận tay đôi về thơ cũ - thơ mới!

Hoài Thanh và Hoài Chân khen Manh Manh một cách ngắn gọn mà đầy đủ: đó là “một nữ sĩ có tài và có gan” (9).

Không chỉ bảo vệ thơ mới, Manh Manh còn là một chiến sĩ đòi giải phóng phụ nữ, bình quyền với nam giới. Chị đả kích các tập tục hủ bại như trọng nam khinh nữ, tảo hôn, đa thê…, bênh vực những quyền lợi chính đáng của nữ giới. Trong năm 1934, chị đã đi tới 4 thành phố (Huế, Hà Nội, Nam Định, Hải Phòng) để diễn thuyết các đề tài Dư luận nam giới đối với phụ nữ tiên tiến; Một ngày của một người đàn bà tiên tiến; Có nên tự do kết hôn chăng?; Nên bỏ chế độ đa thê không? Ý tưởng của chị trong các buổi diễn thuyết đó đã tạo ra trong xã hội hai luồng dư luận trái chiều - tán thành và phản đối - phản ảnh qua báo chí trong Nam ngoài Bắc.


Đồng ruộng Gò Công. Nguồn: Internet.

Năm 1936, chị tích cực tham gia phong trào Đông Dương đại hội. Tuy mới 22 tuổi, chị là một trong hai phụ nữ được cử vào Ủy ban lâm thời tổ chức Đông Dương đại hội tại Sài Gòn, bên cạnh các nhân vật nổi tiếng thời đó như Nguyễn An Ninh, Trịnh Đình Thảo, Nguyễn Văn Tạo, Nguyễn Văn Nguyễn, Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm…

Ngày 11/11/1937, chị kết hôn với Lư Khê (10).

Nhưng đáng buồn thay, hạnh phúc của chị quá ngắn ngủi! Khi sinh con đầu lòng, chị gặp sự cố không may, mất khả năng sinh sản. Lư Khê là con cả trong gia đình, nên cưới vợ hai để sinh con nối dõi tông đường. Từ năm 1939, chị vò võ một mình nuôi con. Cháu bé bị bệnh từ khi mới lọt lòng, chỉ sống được một năm (11). Những biến cố dồn dập khiến cho người thiếu phụ 25 tuổi ấy buồn tủi khôn nguôi.

Đầu năm 1950, chị sang Pháp định cư. Bặt vô âm tín. Nhưng ở trong nước, tên tuổi và sự nghiệp của chị không bị lãng quên. Tháng 1/1999, hai nhà nghiên cứu Thiện Mộc Lan và Thanh Việt Thanh cho xuất bản cuốn Nữ sĩ Nguyễn Thị Manh Manh. Nhờ đọc cuốn sách ấy trong một chuyến về thăm quê hương, bà Bourbon Thi Hương - một Việt kiều ở Paris, bạn của chị - giúp nối lại liên lạc với chị. Nhận được cuốn sách có lời đề tặng của hai tác giả, chị xúc động nói: “Không ngờ nửa thế kỷ rồi mà những người bạn văn ở trong nước còn nhớ và viết về tôi” (12). Lúc đó, chị đã 85 tuổi, đang sống trong nhà dưỡng lão ở Paris. Hơn 6 năm sau, chị trút hơi thở cuối cùng sau hơn nửa thế kỷ sống xa quê hương…


(1)

Thiện Mộc Lan (tên thật Đinh Công Thanh) là nhà nghiên cứu ở Sa Đéc (Đồng Tháp), tác giả của Nữ sĩ Nguyễn Thị Manh Manh (cùng với Thanh Việt Thanh, 1999); Trần Tấn Quốc - 40 năm làm báo (2000); Phụ Nữ Tân Văn - Phấn son tô điểm sơn hà (2010)…

(2)

Phụ Nữ Tân Văn số 122, ngày 10/3/1932.

(3), (12)

Thiện Mộc Lan, Phụ nữ tân văn - Phấn son tô điểm sơn hà, Nxb Văn Hóa Sài Gòn, TP. Hồ Chí Minh, 2010. tr. 260.

(4), (9)

Hoài Thanh - Hoài Chân, Thi nhân Việt Nam 1932-1941, Nxb Văn Học, Hà Nội, 1988, tr. 25.

(5)

Lưu Trọng Lư diễn thuyết tại Nhà Hội học Quy Nhơn (tháng 6/1934), Đỗ Đức Vượng tại Hội Trí tri Hà Nội (tháng 1/1935), Vũ Đình Liên tại Hội Trí tri Nam Định (tháng 11/1935)…

(6)

Mai, số 20, ngày 22/1/1938.

(7)

Phụ Nữ Tân Văn, số 211, ngày 10/8/1933.

(8)

Thiện Mộc Lan - Thanh Việt Thanh, Nữ sĩ Nguyễn Thị Manh Manh, Nxb Văn Nghệ TP. Hồ Chí Minh, 1999, tr. 120.

(10)

Lư Khê (tên thật Trương Văn Em), quê ở Hà Tiên, dạy Việt văn ở trường Trung học Huỳnh Khương Ninh, Sài Gòn, tác giả các tập văn Douleur secrète (1939), Phút thoát trần (1942), cộng tác với nhiều tờ báo (1935-1945), chủ bút các tờ Sự Thật (1946-1947), Ánh Sáng (1947-1950). Bị ám sát ở Sài Gòn (3/7/1950).

(11)

Trương Minh Đạt, Những kỷ niệm sống với anh Lư Khê và chị Manh Manh, trình bày tại trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP. Hồ Chí Minh ngày 26/5/2006. Trương Minh Đạt (em út của Lư Khê) là nhà Hà Tiên học nổi tiếng. Tác giả của Nhận thức mới về đất Hà Tiên (2001), Nghiên cứu Hà Tiên (2008)…