Những lần được gặp Bác Hồ

Tư Hoành - Nguyễn Văn Hoành là một hiện tượng chỉ sản sinh ra trong cuộc kháng chiến của chúng ta. Xuất thân trong một gia đình nghèo khó, Cách mạng tháng Tám bùng nổ, ông đi vào kháng chiến và cách mạng, làm chiến sĩ bộ đội ở Bến Tre. Chiến đấu gan dạ, dũng cảm nhưng trong một lần thất thế, ông bị giặc Pháp bắt. Sau khi tra tấn đánh đập 4, 5 ngày, chúng đem ông ra xử bắn ở chợ Sóc Sải, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre để thị uy. Ông tương kế tựu kế đòi mở bịt mắt trước khi bắn và thừa sơ hở của địch ông vùng chạy thoát vào đám đông đang họp chợ. Chiến công đó của người chiến sĩ cách mạng đã làm mọi người nức lòng và đặc biệt được người vợ mới cưới của ông - một cô gái mà ông yêu, lấy ông theo sự sắp đặt của cha mẹ nhưng chưa thuận lòng với ông - đã thay đổi ý định. Vì trước đó cô ta đã viết một bức thư khuyên ông rút lui nhưng “cũng may” là ông không biết chữ lại không dám nhờ ai đọc giùm nên cứ coi như không có chuyện gì xảy ra. Thế rồi, trước bản lĩnh và thái độ của ông đối với kẻ địch, người vợ đã bắt đầu yêu ông và chấp nhận ông làm chồng. Cũng nhờ chiến đấu gan dạ, dũng cảm, ông được chọn làm cận vệ cho đồng chí Trần Văn Trà lên đường ra Việt Bắc gặp Bác Hồ báo cáo tình hình Nam Bộ (năm 1948). Rồi sau đó, với sự đề cử của đồng chí Trần Văn Trà, ông trở thành người cận vệ trung thành và tận tụy của đồng chí Lê Duẩn - Bí thư Xứ ủy Nam Bộ, rồi lại một lần nữa lên đường bảo vệ đồng chí Lê Duẩn ra Việt Bắc gặp Bác Hồ lần thứ hai (năm 1952). Sau này, ông trở thành Cục phó Cục Quản trị của Văn phòng Trung ương Đảng, và vợ ông trở thành người chăm lo bữa ăn với những món Nam Bộ mà Tổng Bí thư thích.

Điểm đặc biệt là, từ một người mù chữ, do tự học và tích lũy kinh nghiệm, tích lũy vốn sống, kiến thức ông trở thành một người viết hồi ký về bản thân, về đồng chí Lê Duẩn, về Bác Hồ và về cách mạng. Những tác phẩm của ông: Trưởng thành theo cách mạng, Những gương sáng đời tôi, Anh Ba Lê Duẩn trong trái tim tôi, Những lần được gặp Bác Hồ giản dị, chân thật, đậm đà và có rất nhiều tình tiết đáng quý. Ông cũng thường viết báo, viết bài tham gia vào những cuộc hội thảo quan trọng về các đồng chí lãnh đạo Đảng mà ông có dịp tiếp xúc, quen biết. Cống hiến này của ông có một ý nghĩa quan trọng không kém những chiến công trước đó.

Tư Hoành là một người ít nói, thiệt thà nhưng rất giàu tình cảm. Ông đã đến với Hồn Việt, đã đến với chúng tôi như một người thân thiết, ruột rà. Nay ông về cõi vĩnh hằng, để gặp lại Tổng Bí thư Lê Duẩn và Bác Hồ. Chúng tôi tiếc thương một huyền thoại của cuộc cách mạng với những tình cảm chân thành.

Xin giới thiệu dưới đây vài đoạn hồi ký của ông (và xin xem lại đoạn hồi ký Chuyện cổ tích về Tư Hoành đăng trên Hồn Việt số 12, tháng 6-2008).

M.Q.L

...Tháng 2 năm 1948, Bộ tư lệnh Khu 8 gởi công văn xuống các trung đoàn, yêu cầu mỗi trung đoàn chọn hai chiến sĩ chiến đấu gan dạ, dũng cảm về Khu để thành lập một tiểu đội đặc biệt. Tôi được chọn. Ngày 15-3-1948, đồng chí Trần Văn Trà, Tư lệnh Khu 8, họp tiểu đội bảo vệ lại rồi nói:

- Các đồng chí rèn luyện sức khỏe để sẵn sàng bảo vệ phái đoàn Nam Bộ ra chiến khu Việt Bắc báo cáo tình hình kháng chiến miền Nam với Trung ương Đảng và Bác Hồ.

Được nhận nhiệm vụ đặc biệt này, tôi như được nhận một phần thưởng cao quý! Thật không thể ngờ được là ước mơ của tôi đã trở thành sự thực sớm như vậy. Đêm đó, tôi vui đến nỗi suốt đêm không sao ngủ được, nghĩ ngợi đủ điều, nằm trằn trọc tưởng tượng đến hành trình của chuyến đi.

Đoàn chúng tôi gồm 20 người, trong đó có 8 đại biểu chính thức. Đồng chí Trần Văn Trà làm trưởng đoàn, phó đoàn là anh Trần Bửu Kiếm - Thư ký Ủy ban Kháng chiến hành chánh Nam Bộ. Ngoài ra, có linh mục Nguyễn Bá Kính, đại diện Công giáo Nam Bộ; đồng chí Khâm, đại diện Công đoàn; đồng chí Khung, đại diện giai cấp công nhân; đồng chí Quyền đại diện quân giới Nam Bộ; đồng chí Trọng đại diện nông dân kiêm thủ quỹ của đoàn và đồng chí Trần, đại diện thanh niên Nam Bộ. Tiểu đội bảo vệ có 12 người, đồng chí Đặng làm tiểu đội trưởng, tôi là tiểu đội phó trực tiếp bảo vệ cho đồng chí Trần Văn Trà. Trong tiểu đội, có đồng chí Thanh là quân y sĩ.

Đoàn tập trung tại vùng giải phóng Đồng Tháp Mười - Vàm Cỏ Đông cách Mộc Hóa khoảng 10 cây số. Đến vị trí tập trung nhận quân trang, mỗi người chỉ được phát 1 ba lô, không có áo mưa, không có võng. Tuy nhiên, mỗi người được cấp 1 miếng vải dù để sử dụng trên đường.

… Đi ròng rã 6 tháng trời, ngày 5-10-1948, đoàn tới chiến khu Việt Bắc. Đoàn đến Bộ Quốc phòng gặp Đại tướng Võ Nguyên Giáp, anh Trần Văn Trà báo cáo tình hình, sau đó Bác Hồ đến. Vừa được gặp Bác, chúng tôi không còn để ý tới hàng ngũ, chạy ùa ra đón Bác như những đứa con đi xa lâu ngày sà vào ôm người cha kính yêu đầy thương nhớ, trông chờ, rối rít, nghẹn ngào không nói nên lời. Chúng tôi xúc động sờ lên bộ bà ba nâu của Bác, thổn thức nắm bàn tay ấm của Người.

Khi ấy, tóc Bác Hồ mới chỉ lưa thưa vài sợi bạc, răng Bác rất đều, đôi mắt Bác ngời sáng tinh anh dưới vầng trán rộng toát lên vẻ đẹp trí tuệ và nhân từ. Tất cả ánh lên niềm yêu thương, gần gũi, nhân hậu như tình ruột thịt. Bác Hồ bình dị từ cách ăn mặc đến cử chỉ, lời nói. Cảm xúc của chúng tôi lúc ấy thật khó có thể diễn tả được thành lời. Trước tình cảm của Bác, tôi tự hỏi, sao tình cảm của Người lại dạt dào thân thương, hiền từ, gần gũi đến như vậy? Có điều gì đó cao sâu trên vầng trán và ấm áp trong ánh mắt của Người, có điều gì đó đầy sức thuyết phục trong từng lời nói từ tốn, dễ nghe, dễ hiểu của Người. Cả tiểu đội vũ trang chúng tôi quây quần quanh Bác Hồ. Chúng tôi rất cảm động khi Người ân cần hỏi thăm từng người về gia cảnh, quê quán, đơn vị; hỏi chiến công và cả những gian khổ, hy sinh. Bác không chỉ quan tâm chuyện quốc gia đại sự mà còn quan tâm đến tình cảm riêng tư của chúng tôi. Rồi Bác bảo mọi người chụp ảnh với Bác để kỷ niệm. Bác đứng giữa, Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Tư lệnh Trần Văn Trà đứng hai bên cùng với tất cả cán bộ, chiến sĩ trong tiểu đội.