Niềm vui của mùa xuân

Năm 2014 là năm kỷ niệm một thế kỷ mở đầu trận đại chiến thế giới lần thứ nhất khốc liệt mà có ai biết đó cũng là 100 năm kỷ niệm Tết Việt trên đất Pháp? Những người lính “Đông Dương” nguyên quán ở cả ba miền Bắc, Trung, Nam bị mộ quân tải đi phục vụ cho chiến trường tại Pháp vào cuối năm 1914 (Giáp Dần), đã ăn cái Tết Việt đầu tiên xa quê hương - Tết con mèo Ất Mão - trong các chiến hào. Những người đồng đội, từ người Pháp đến người châu Phi, học từ những người lính Đông Dương thế nào là Tết Việt, vui, tràn trề hy vọng, họ chúc nhau ngày trở về đoàn tụ với gia đình, trở về quê hương xứ sở. Thế hệ sinh ra sau kết thúc chiến trận từ những năm 1918 được truyền lại những kỷ niệm Tết Việt trong chiến hào Pháp, rồi từ đó đến giờ, những khái niệm văn hóa Việt như “Tết” và các món ăn truyền thống như phở, nem rán (chả giò), bánh chưng, bánh cuốn không còn xa lạ với người dân Pháp nữa. Thời ấy, cuộc cách mạng tháng 10 năm 1917 tại nước Nga, nảy ra từ thế chiến lần thứ nhất, đã mở ra cho thế giới hai chủ thuyết chính trị đối lập đồng thời là hai phương cách quản lý xã hội đất nước khác nhau, theo tư bản hay theo cộng sản. Nhưng có người dân bình thường nào biết rõ ràng những khái niệm chính trị ấy, họ chỉ vui mừng được sống sót, trở về một đời sống bình thường, làm ăn, lấy vợ, đẻ con, kể luôn cả những người “Việt kiều” đầu tiên ấy.

Dù bất kỳ ở nơi đâu trên quả địa cầu, đều có những người khó chịu dễ ghét, hay những người đáng mến dễ thương, nhưng vẫn còn có những người trẻ ghét “thực dân Pháp” một cách mơ hồ, không phân biệt một “chế độ” và “con người”. “Bản án chế độ thực dân Pháp” lên án một chế độ bóc lột, chứ không lên án con người. Đến giờ, hình như chưa có ai viết một bản án mới lên án một chế độ thực dân toàn cầu mới bằng phương cách khống chế mọi thị trường: đầu tư trực tiếp, tài chính, truyền thông, sản xuất và cung cấp, tiêu thụ một cách ngắn gọn dễ hiểu. Chế độ là một khái niệm chính trị, chỉ một hệ thống tổ chức, một guồng máy quản lý một xã hội, một đất nước theo một mục đích phát triển kinh tế, đạo đức, văn hóa, xã hội nào đó, do con người đặt ra để quản lý con người. Còn “con người” thì là con người, với những đặc trưng, đặc thù được hun đúc bởi truyền thống, tâm tình, văn hóa của dân tộc đó. Không nói chi người Pháp, cách đây mấy chục năm, khi những người Việt (kiều) tình cờ gặp nhau ở một nơi nào đâu đó xa quê hương, thì ôm chầm lấy nhau, tay bắt mặt mừng như người thân thiết đã lâu, kết bạn. Bây giờ thì lánh nhau, nghi kỵ lẫn nhau, đó cũng là một cuộc chiến tranh “lạnh” đang tiếp diễn một cách vô ích. Nhưng đời sống con người luôn có những điều vô ích cần phải để tâm trí khắc phục.

***

Mùa đông đang về ngự trị trên châu Âu, những ngày băng giá rất lạnh lẽo đã kéo đến, nên trong nền trời tối sẫm, đục kín, người ta không nghĩ gì hơn là hy vọng chờ một mùa xuân mới sẽ đến. Nước Việt có nhiều nắng ấm, đó chính là mùa xuân vĩnh cửu của nước Việt. Ngày nào cũng có nắng lên, đem lại ánh sáng, ấm áp, làm cho con người vui tươi, sảng khoái, khiến cho ai dù cực khổ đến đâu cũng có một nụ cười - đó là món quà tặng vô giá của thiên nhiên, của dân tộc.

Niềm vui của một dân tộc, mùa xuân của một dân tộc là những đám cưới, những gia đình mới, những đứa trẻ mới chào đời, những ngày mùa thu hoạch, những lễ hội văn hóa truyền thống… đó chính là những nguồn sống, những công việc “trồng người” để cho dân tộc ấy tồn tại và phát triển.

Trong niềm hy vọng một mùa xuân mới, thanh bình, an vui, thay lời chúc tết, xin mời bạn ghé thăm nhà quê Pháp, qua một đoạn văn chúng tôi kể về André, một đứa trẻ được sinh sau thế chiến thứ hai kết thúc năm 1945, khi người cha trở về làng cũ, sau nhiều năm bị chính phủ Pétain áp bức đưa đi cưỡng bách lao động cho chế độ Đức quốc xã tại Đức, làng quê Pháp còn rất nghèo, cuộc sống đầy thiếu thốn, cực khổ.

“... Ở nhà quê, đời sống văn hóa khác hẳn với kinh đô ánh sáng Paris, những thú giải trí như xem phim, xem kịch, xem tranh, nhảy đầm... chỉ có ở những thành phố nhỏ chung quanh, cách nhau vài chục cây số, nhưng nếu không có một chiếc xe hơi và bằng lái xe, cũng như tiền đổ xăng thì khoảng cách này trở thành một khó khăn lớn.

Dân làng, di chuyển bằng hai chân cuốc bộ, xe đạp, xe gắn máy Mobylette, bác sĩ làng cưỡi ngựa vượt rừng đi chữa bệnh cho dân, chở đồ nặng thì kéo bằng xe thùng gỗ. Một chiếc xe buýt ọp ẹp lượm trẻ con từ các làng gần nhau, sáng chiều đưa đón, để chúng có thể học tiếp bậc trung học trong một thành phố lớn gần nhất.

Trai gái làng chỉ có dịp gặp nhau, xem mắt nhau, trong những ngày hội làng truyền thống như đêm lửa thánh Jean vào tháng 6, lễ Giáng sinh, lễ “cắt tóc phi dê” (14-7)… hoặc trong các đám cưới, sinh nhật, đám ma, rửa tội... của gia đình, cho nên họ thường lấy nhau dây mơ rễ má loanh quanh. Cái làng nhỏ chỉ có độ 500 dân, ai cũng biết ai, từ cả mấy đời, họ hàng chằng chịt với nhau. Thậm chí có người chưa hề xa cái làng chôn nhau cắt rún một lần nào trong đời, chỉ quanh quẩn trong nhà, trong làng, xa xôi lắm thì được đi đến vài làng khác giáp cận.

Làng này cách làng kia chỉ vài cánh đồng, khoảng năm, mười cây số đường đất. Mỗi làng, dù nhỏ đến mấy, chỉ vài chục dân, có mười, hai mươi nóc nhà, đều có một nhà thờ và tháp chuông giữa làng, nghĩa địa làng thường được đặt ngay bên cạnh hay bao bọc chung quanh nhà thờ. Sinh đẻ, rửa tội, chôn cất, sinh và tử đều chung một nơi, cùng một chốn. Muốn đi đâu, dù trời xấu hay tốt, cứ nhắm tháp chuông mà đi thì không lầm lẫn.

André lớn lên với ông bà ngoại và cậu, Georges chưa vợ không con, trong nông trại, vì cha mẹ phải theo thời cuộc đi buôn bán ở một thành phố nhỏ, xa làng quê. Chú bé đồng quê ít bạn ở gần, lẽo đẽo theo chân cậu suốt ngày, nhổ cỏ dại, trồng cây, cày đất, đánh vồng khoai, lên rừng đốn gỗ, lượm củi, bắn chim, bắn thú rừng, bẫy thỏ, cái gì cũng học của thiên nhiên, cái gì cũng biết, từng cái hoa, ngọn cỏ cho đến từng loại chim muông thú rừng. Georges, như vừa là cha, là cậu, là anh lớn, đem tất cả mọi hiểu biết về thiên nhiên và cuộc đời của mình truyền cho thằng cháu.

Nhà quê nghèo, không có đồ chơi sẵn như ở thành thị, thú vui lớn nhất của chú bé André là cưỡi chiếc xe đạp cũ kỹ, lắp ráp bằng nhiều mảnh khác nhau, băng băng trên các đường ruộng nhỏ ngoằn ngoèo, hì hục lên dốc núi rồi thả tay lái rơi chúc xuống dốc như một mũi tên bắn. Thế nên, một lần, André, trên một con đường dốc, không thấy kịp một sợi dây kẽm gai còn sót lại từ thời thế chiến thứ hai giăng ngang một góc ruộng, bay trên chiếc xe đạp đâm thẳng vào đấy. Chú bé André tỉnh dậy, không biết mình đã nằm bất tỉnh trên cỏ bao lâu, hên là mảnh ruộng ấy không có bò hay ngựa đang ăn cỏ, chiếc xe đạp chỏng chơ cách chỗ André nằm vài ba thước. Chú bé lồm cồm bò dậy, quệt máu mũi vào cánh tay trần, lượm xe đạp, lếch thếch chân thấp chân cao dắt về nhà.

Vừa trông thấy André tấp tểnh dắt chiếc xe đạp méo mó vẹo vọ bước vào sân nông trại, bà ngoại hét thất kinh:

- Chúa ơi, cái thằng nhỏ, con heo nhỏ!

Sợi dây kẽm gai cắt đứt ngang gò má trái, cứa luôn một cánh mũi gần đứt rời, nhưng máu đã thôi chảy, cái mặt chú bé bị tàn phá như chiến sĩ bị bom nhưng André chỉ thấy ran rát. Bà ngoại chùi máu cho cháu, lục hộc tủ kiếm một miếng băng dán cái cánh mũi lại, một miếng khác dán vết thương trên gò má. Hai vết sẹo đẹp đây. Ôi, cái thằng con heo nhỏ! Không bác sĩ, không thuốc, không tiêm chủng, sau mấy tuần hai cái sẹo lành rõ nét trên khuôn mặt André, miếng mũi bị đứt hẳn cũng đã dính lại.

Cha của André tên là Moïs, đã bị phát xít Đức bắt đi lao động cưỡng bách suốt thời kỳ thế chiến thứ hai, lưu lạc qua cả bên nước Nga, được thả, cho về làng khi chiến tranh chấm dứt gần cuối năm 1945. Bà Mathilde bảo con gái, Marie, đang tuổi lấy chồng, rằng Moïs cần cù siêng năng, lại đẹp trai nhất làng, không nên bỏ lỡ cơ hội.

Dân trong làng đa số là nông dân, giàu thì có vài mảnh ruộng, nghèo sát đất thì đi làm thuê. Đất cả làng thuộc về hai gia đình đại phú, họ ở trong hai lâu đài nhỏ từ thời lãnh chúa ngày xưa. Chàng nào không phải là nông dân cày sâu cuốc bẫm mà có tay nghề là thợ hàng thịt, thợ làm bánh mì, thợ sửa máy thì oai lắm, được gái làng đua nhau theo đuổi, các cô gái đều hy vọng sẽ được làm “bà chủ” một cửa hàng hay theo chồng đi sống ở thành phố, không còn phải ở nhà quê, làm gái quê nữa.

Gia đình Maurice-Mathilde xưa kia là đại phú nông, rất giàu có, phần thì tài sản bị mất mát, chia năm xẻ bảy bởi những cuộc hôn nhân của dòng họ, phần thì trải qua hai cuộc chiến tranh thế giới bị thiệt hại khá nhiều. Hầu như tám chín chục phần trăm nhà cửa bị bom đạn tàn phá, không có nhà nào còn nguyên vẹn.

Maurice và Mathilde chỉ có hai con, Marie và Georges. Georges cũng bị quân Đức bắt đi lao động cưỡng bách, và số phần cũng may mắn như Moïs, quân đội Nga cho thả tất cả tù binh Pháp và những người Pháp bị Đức cưỡng ép lao động, phục vụ chiến tranh cho chúng, ngay sau khi lính Đức thua trận và đầu hàng vô điều kiện năm 1945. Georges bắt đầu lên đường, đi bộ từ biên giới Ba Lan, xuyên qua nước Đức, sống sót suốt chặng đường dài, trở về làng. Gian khổ, lo sợ, nhưng Georges cũng lết về đến tận làng sau sáu tháng trời đằng đẵng. Nhiều lần Georges lọt lại vào lưới quân Đức, nhưng lại thoát nạn, nhờ có màu tóc vàng và đôi mắt xanh trông giống như dân Đức chính cống. Hằng đêm, Georges thường giật mình thức giấc nhiều lần, la hét sợ hãi vì những hình ảnh ghê rợn đã trông thấy trong suốt nhiều năm chiến tranh luôn ám ảnh tinh thần, tâm trí.

Cũng trong suốt những năm chiến tranh ấy Maurice đã phải đi di tản hai lần, hai vợ chồng và cô con gái kéo, đẩy, một chiếc xe càng bằng gỗ trên chở đồ vật cần dùng và còn sót lại. Họ nhẫn nại, nhục nhằn di tản bằng hai chân trên những chặng đường cả trăm cây số, rồi lại gian khổ lần mò kéo xe đi bộ trở về. Cuối cùng Maurice, vợ và con gái cũng về đến nông trại, tiếp tục làm ruộng, chăn nuôi. Làm ruộng khi ấy vẫn dùng sức người là chính. Maurice chỉ còn có mỗi một con ngựa để kéo cày và chuyên chở thì bị thằng đại điền chủ trong làng, lấy cớ cần ngựa để sử dụng cho quân Đức quốc xã tịch thu mất béng.

Hai vợ chồng suốt ngày làm lụng tay chân trên đồng, xới đất, giẫy cỏ, bón phân, tưới nước, trừ sâu bọ, đánh bẫy chim muông và các loài thú rừng kéo đến phá ruộng, đốn gỗ để sưởi. Họ trồng thay đổi nào là khoai tây, bắp cải, xu, hành, tỏi, cà rốt, cần tây, bí đỏ, lúa mì, cây gai, lúa mạch, cây dầu, bắp, đậu trắng, đậu xanh, cà chua... Trong sân có đàn gà trống mái, ngỗng, thỏ, hai con heo nhà, bồ câu, chuồng bò… Nhiều khi Mathilde phải đem đổi trứng gà, trứng ngỗng lấy thực phẩm khác, vì đàn gà đẻ liên tục, ăn không hết. Trong vườn có đủ mọi loại cây ăn trái, táo, lê, đào, mận, nho, xơ ri. Cuối mùa hè, mùa quả chín, Mathilde bận rộn ngày đêm để hái quả, một phần đem trữ trong rơm rạ dưới nóc nhà, một phần phải làm mứt và các thứ tráng miệng khác để dành ăn trong mùa đông. Mảnh rừng trên sườn đồi của làng thuộc sở hữu gia đình trồng rất nhiều cây xơ ri, mùa xuân hoa xơ ri nở trắng. Đầu hè, hoa đã thành quả ngọt, có cả hàng tấn, đem bán chỉ có tám chục xu, chưa tới một quan, một ký.

Maurice và Georges, hai cha con là hai tay súng săn thiện xạ, đi săn và đem về cho Mathilde đủ thứ, heo rừng, thỏ rừng, gà rừng, thỉnh thoảng một con hươu hay một con nai. Mathilde phải thức nhiều đêm để làm thịt ướp muối cho vào vại sành.

Marie và Moïs ưng thuận lấy nhau vài tháng sau đó. Một năm sau đám cưới, Marie chuyển bụng sinh con. Giữa đêm còn đen, mờ mờ xa xa ánh sáng ở chân trời mọc, Moïs đã cưỡi con ngựa kéo theo một cái xe thùng đủ chỗ cho hai người ngồi, đi đón cô mụ, Mẹ Folie, ở một làng lớn hơn cách nhà 25 cây số. Mẹ Folie là một người phụ nữ bình thường, nhưng đã biết đỡ đẻ nhiều lần trót lọt, mẹ tròn con vuông, được truyền miệng là người “mát tay”, đáng tin cậy.

Marie đau bụng quằn quại trên giường, cái thai đè nặng như cục đá, may khi ấy là mùa hè, tháng 7, mở tung được các cửa sổ cho có không khí, chứ không thì rất ngột ngạt với cái lò than đỏ lửa trong phòng đóng kín. Cô mụ nhà quê lính quýnh khi thấy một ngón chân bé tí teo đỏ hỏn thò ra khỏi cổ tử cung. Khổ rồi, thai ngược, chân ra trước đầu. Loay hoay mãi cô mụ mới nắm được một chân, kéo ra một chút, rồi cả hai chân của đứa bé. Cô mụ nắm hai cổ chân bé tí teo, xoay tới xoay lui để kéo đứa bé ra, trong khi Marie hai tay vịn chặt lên thanh giường trên đầu cố sức rặn cho nhanh theo linh tính để đứa con khỏi bị nghẹt thở. Một tay nắm chặt hai chân đứa bé đã ra đến đầu gối, một tay ấn vào bụng trên để nhồi đứa bé xuống, cô mụ phải kéo ra từng bàn tay, rồi hai cánh tay, toát mồ hôi hột mới lôi ngược được đứa bé ra.

Một thằng con trai bụ bẫm, với sợi giây rún quấn quanh cổ. Nó lặng im thin thít. Cô mụ cắt rún, tưởng đứa bé đã chết, bèn đặt nó xuống nền gạch âm ấm trước cái lò sưởi, trần truồng, nhơn nhớt, trắng nhợt. Marie đã kiệt sức, thở hổn hển, máu chảy tràn lan trên giường, tưởng như cũng sắp chết. Cô mụ tiếp tục ấn xuống bụng Marie để xổ nhau cho nhanh, và quấn băng chặt quanh bụng Marie, sợ Marie chết trên giường sanh. Hai mẹ con chết hết thì thật là bất hạnh!

Thằng cu nằm dưới đất vẫn lặng thinh. Ông ngoại, Maurice, đi đi lại lại bên ngoài, sốt cả ruột vì không nghe tiếng khóc chào đời của đứa cháu đầu lòng, thò đầu vào xem. Thấy hình hài đứa bé trai trần truồng nằm dưới sàn gạch lạnh, ông ngoại quýnh quáng la hét om xòm “Chết cháu tôi, chết cháu tôi!”.

Cô mụ thất kinh, bảo ông đi kiếm cho nhanh hai chậu đựng nước và một ấm nước nóng. May mà Mathilde, lúc nào cũng có một ấm nước nóng đặt suốt ngày trên lò sưởi than. Hai tay bế thằng cu nhúng vài giây vào chậu nước lạnh, rồi nhúng vài giây vào chậu nước nóng ấm bên cạnh, cô mụ xanh mặt, vừa đọc kinh gọi Chúa Trời và Đức Mẹ Đồng Trinh cứu nạn. Marie nằm thật yên lắng nghe. Ông ngoại đứng ngoài cửa chờ, sốt điên cả ruột. Một lát sau, thằng cu chợt bật khóc to, oa oa oa oa. Ông ngoại dộng cái gậy xuống đất, thở phào nhẹ nhõm, làm dấu Thánh giá. Cô mụ không kìm được nụ cười tươi rói. Một cuộc sống mới mang tên André của đứa trẻ mới đẻ vừa được hồi sinh bắt đầu.” (Trích tiểu thuyết Hoa Gai, xuất bản năm 2010).