Năm mới, chuyện cũ

VŨ HẠNH
Ghi lại hồi ký ĐÀO VIÊN

Ngay những ngày đầu xâm chiếm nước ta thực dân Pháp đã hết sức ngạc nhiên về sự thống nhất của dân tộc Việt Nam, như sử gia Pháp là Gosselin đã viết: “Khi chúng ta đặt chân lên đất nước này, chúng ta đã phải đối đầu với một dân tộc có sự thống nhất ngoài sức tưởng tượng của chúng ta”. Do vậy, sau khi chiếm được, chúng tìm mọi cách chia rẽ, khởi đầu là chia Việt Nam ra làm 3 kỳ, như 3 quốc gia, với những thể chế riêng biệt và sự đi lại giữa 3 miền này đều phải có giấy thông hành. Những âm mưu chia rẽ ấy có nhiều thủ đoạn thâm độc, cho đến ngày nay vẫn chưa gạn sạch được các di-lụy.

Trước năm 1975, trong những sinh hoạt ở Trung tâm Văn Bút (Pen Club) Sài Gòn, tôi quen ông Đào Viên và được ông tặng bản thảo sao lại của tập hồi ký Một đời công bộc nói về những điều ông đã trải qua cũng như nhận thấy trong những năm dài là một viên chức dưới thời Pháp thuộc. Ông là một người hiền hòa, có kiến thức rộng, rất yêu văn thơ và hẳn ông chưa có dịp ấn hành Hồi ký trước khi giã từ cõi đời.

Xin được mạn phép tác giả trích dẫn một ít tư liệu từ tập Hồi ký nói trên, để giúp bạn trẻ ngày nay thêm chút hiểu biết về sự quản lý làng xã ở miền Nam lúc này, cũng như cuộc sống nô lệ dưới thời Pháp thuộc. Hiện nay vẫn còn những người nuôi ảo tưởng ngớ ngẩn rằng, không cần phải đứng lên và cầm vũ khí chống Pháp mà chỉ cần lo trước hết là việc nâng cao dân trí, nhưng họ không hề biết rằng, ngay đối với những người có học cao, làm việc với thực dân Pháp cũng bị xem như là hàng súc vật - ở một vùng đất hưởng cái chế độ trực trị, phần nào thông thoáng hơn ở miền Bắc, miền Trung bấy giờ thì cái dân trí ấy được nâng cao bằng bùa phép nào?


Ảnh minh họa. Ảnh: Khoaphongdien.

Bây giờ còn gặp ở trong sách vở những tiếng như là Hội Tề, nhưng các bạn trẻ ít ai biết được tổ chức của làng xã ấy là như thế nào. Nếu ngày nay gọi là Ủy Ban Nhân Dân Xã thì thời Pháp thuộc gọi Ban Hội Tề - tiếng pháp là Conseil des Notables. Ban Hội Tề là tổ chức quản lý cấp xã, ở miền Nam này. Trên hết, có mấy chức vị danh dự như sau: Chánh bái, Bồi bái, Đại hương cả, rồi đến 12 vị trong Ban Hội Tề, đó là Hương cả, Hương chủ, Hương sư, Hương trưởng, Hương chánh, Hương giáo, Hương bộ, Hương quản, Xã trưởng, Hương thân, Hương hào và Chánh lục bộ.

Trên thực tế, chỉ có bảy ông đảm nhiệm chức vụ hẳn hoi, ngoài ra chỉ để trang trí vì không có nhiệm vụ nào cụ thể. Hương cả là người chủ tề, điều khiển việc làng, thay mặt hương thôn giao dịch với tỉnh, với quận, cũng như các nhiệm sở khác. Hương bộ cất giữ sổ sách của làng. Hương quản lo việc tuần phòng, rình trộm bắt cướp, bài trừ tệ nạn xã hội. Chánh lục bộ nắm giữ bộ đời - cụ thể lo việc sinh tử, hôn thú. Xã trưởng đảm trách thu thuế, gởi vào kho tiền công nho của làng cũng như lãnh ra trang trải các khoản chi phí. Hương hào phụ trách rao trát cho những ai có liên hệ tòa án. Hương thân phụ trách việc tuyển lính, điền quân... Bộ ba: Xã trưởng, Hương thân, Hương hào thị thực văn kiện mua bán ruộng đất. Thời Nhật xâm chiếm Đông Dương, họ điên đầu với các chức vị trên đây vì không biết ai mới thực là người lớn nhất ở chốn hương thôn, bởi vì theo họ thì “hương” và “xã” đều có nghĩa là “làng”, còn “cả” và “trưởng”, hay “chủ” hoặc “chánh” đều cùng có nghĩa là ở trên hết.

Đời sống của những công chức thời Pháp chứa đựng lắm chuyện cười ra nước mắt. Cứ vào cuối ngày 31 tháng 12 Dương lịch, là ngày chấm dứt năm Tây thì Chánh văn phòng thường dẫn tất cả nhân viên gồm các Phủ, Huyện, Thư ký thuộc quyền đến mừng tuổi ông Thống đốc. Bao giờ quan chức Việt Nam cũng phải nhường các quan Pháp chúc trước.

Có lần những bậc đàn em yêu cầu ông Chánh văn phòng - một Đốc phủ sứ đừng lạy quan trên, như các năm trước, vì lẽ đàn anh mà lạy thì tất đàn em cũng phải lạy theo. Mà anh với bộ quần áo Việt Nam khăn đóng áo dài - làm lễ dễ dàng, còn em thì bận âu phục, lạy rất vất vả. Ông Đốc phủ đã nhận lời một cách nhiệt thành, vậy mà sau khi cất lên vài lời chúc phúc Thống đốc, quan ta liền quỳ mọp xuống mà lạy hai lạy. Báo hại, đàn em sắp hàng phía sau trong thế chẳng đặng đừng, cũng phải xì xụp lạy theo, nhưng vì quần áo quá chật nên té lăn cục, người này đè lên người kia khiến viên Thống đốc vốn giữ bộ mặt nghiêm nghị cũng phải cắn môi nhịn cười.

Những viên Trưởng phòng người Pháp đối xử với lớp thuộc cấp thường là hách dịch. Một lần, ông Nguyễn Phú Hải trình một hồ sơ lên cho chủ tỉnh, tên là Petit, không rõ vì lẽ nào đó lão không vừa ý ném ngay xuống đất, giấy tờ tung tóe.

Một hôm, vì một sơ ý mà ông phán Phải bị gã Fontane - trưởng phòng đáng tuổi con ông - đã mắng như sau: “Lão già Phải đó quả là giống thú gì đâu! (Quel animal, ce vieux Phai!). Ông Phải không dám nói gì, vừa bước ra vừa khóc rấm rức. Một viên chức khác, Brière de L’Isle, tính tình quạu quọ, nhân viên rất sợ vì gã thường rầy la bất cứ kẻ nào mà gã không ưa. Hôm nào gã diện bộ đồ tuýt-xo thì đám nhân viên mừng thầm, vì lẽ là gã đang vui, trái lại nếu mặc áo xám xề xệ, không thắt cà vạt, thì đám công chức lấm la lấm lét.

Bấy giờ, chỉ cần một gã “tào cáo” - tiếng gọi bọn lính nhà đoan (1) thuộc vào hạng quèn dầu là Tây thiệt, Tây lai, Tây đen, hay Tây da vàng, dù không có cả cái bằng sơ học dính lưng, thì vẫn có thể hống hách, chẳng những với lớp dân quê mà cả với lớp công chức người Việt. Vì vậy, một người như Trương Vĩnh Ký, bấy giờ được xem là nhà bác học Việt Nam, Pháp rất kính nể nhiều phen mời nhập Pháp tịch, song ông từ chối, nói rằng: “Tôi ưng làm người An Nam số một, hơn làm người Pháp hạng chót”.

Brière de L’Isle là một con người tàn nhẫn. Khi gã xuống làm chủ tỉnh Bạc Liêu nhân có Thống đốc từ Sài Gòn xuống, gã đã bắt một viên chức cao niên là Nguyễn Hữu L. đứng trên lề đường, nơi một ngã tư, để mà chỉ dẫn đường đi. Trời mưa tầm tã, ông này lạnh run nhưng phải gắng đứng suốt buổi, đến khi về nhà nằm vùi suốt cả tuần lễ vì bị cảm lạnh.

Khi Toàn quyền Pháp là Pasquier sang, đi bằng tàu thủy. Tàu đậu ở nơi mé sông Sài Gòn, chỗ có pho tượng một tướng thực dân - Rigault de Genouilly - mà dân thành phố bấy giờ quen gọi là chỗ “Một Hình”, sau này dưới chế độ cũ là tượng đức thánh Trần Hưng Đạo. Suốt đường Đồng Khởi - bấy giờ là Catinat - cho đến nhà thờ Đức Bà, còn gọi Vương Cung Thánh Đường, vòng ra đại lộ Lê Duẩn, bấy giờ là Norodom, đến dinh Thống Nhất - bấy giờ là dinh Toàn Quyền, thì sở Trường Tiền đã cho rải cát để đoàn kỵ mã rước Toàn quyền về chạy, khỏi trượt ngã. Đến năm giờ chiều thì tàu cập bến. Cảnh sát đều cầm ma-trắc cùng với biện Tây, biện Chà đứng hai bên đường, day mặt vào các cửa tiệm. Tất cả xe cộ đều bị cấm chạy.

Ông Đào Viên, trong tập Hồi ký của mình, ghi lại cảnh đó như sau: “Từ xa chúng tôi nghe tiếng vó ngựa rộn rộp càng phút càng gần. Đoàn kỵ mã độ năm mươi người chạy hai bên, giữa là chiếc xe Hotchkiss mui trần lăn từ từ, trên xe Toàn quyền Pasquier ngồi với Thống đốc Nam kỳ. Pasquier mặt đồ nỉ đen, nút khuy vàng, đội mũ song giác, viền lông bạc. Với chòm râu phất phơ, lão cũng oai nghi ra phết. Lão cũng là một cây bút hữu hạng, có viết mấy quyển sách về Việt Nam. Người ta đồn rằng lão là nhà chính trị giỏi, nhưng Nguyễn Phan Long (2) thì lại tặng lão biệt danh là: “anh Phocéen xảo quyệt” (L’astucieux Phocéen) (3).

Nơi đây, xin mở dấu ngoặc thuật một chuyện về Pasquier để giúp vui cho độc giả. Năm 1933, tôi tùng sự sở Mật Thám, phòng phiên dịch. Trong sở có ông quản Lòng, vui tính. Một hôm, ông thuật chuyện rằng: “Năm nọ, Toàn quyền Pasquier vô Sài Gòn. Bữa trưa kia, vào khoảng một giờ, ông mặc bộ đồ trắng, sơ mi bâu lật, đi bộ ra cửa. Lúc ấy, tôi với năm ba anh em công an, cảnh sát gác nơi đây. Quan ngài kêu xe kéo bước lên. Anh em chúng tôi tức tốc đạp xe chạy theo. Các ông đoán thử là ngài đi đâu? Ngài vô trong xóm... Bình Khang (4). Chúng tôi tiu nghỉu, đứng ngoài chờ mãi “tính xong công việc trị an” rồi mới hộ tống ngài về”.

Về sau, Pasquier chết do tai nạn phi cơ cùng sáu viên quan cao cấp người Pháp, trong đó có chủ tỉnh Mỹ Tho, Delibes. Bấy giờ báo chí Việt Nam có đăng câu sấm (hẳn là sấm bịa) và bảo là của Trạng Trình ứng trước cái điềm Pasquier tử nạn:

Lửa đâu mà đốt tám gà trên mây

“Tám gà” tức là tiếng dịch của “bát kê”, mà “bát kê” là âm giọng của Pasquier vậy. Rồi dựa vào câu sấm ấy, người ta cho rằng Pasquier đã gặt cái quả không lành vì gieo nhân ác. Nhân ác là chính sách cai trị ở Việt Nam, cùng với mưu toan đào các lăng vua nhà Nguyễn để mà thâu tóm châu báu ngọc ngà.


(1)

Lính nha đoan: nhân viên thuế quan. Đoan là đọc từ tiếng Pháp Douane, có nghĩa là Sở thuế quan (còn gọi là quan thuế).

(2)

Nguyễn Phan Long: nhà báo, nhà chính trị, từng làm Thủ tướng theo mưu đồ của thực dân Pháp ở vùng Nam Kỳ tự trị.

(3)

Phocéen: có nghĩa là dân ở thành Phocée, thuộc miền Tiểu Á. Người dân thành này xưa kia xây dựng Marseille, mà Pasquier là dân ở Marseille nên Nguyễn Phan Long mới gọi như thế. (Đ.V)

(4)

Bình Khang: xóm của gái điếm.