Sắc màu trong mắt ai

Màu sắc trong thiên nhiên vốn rất đa dạng, phong phú, điểm tô cho sự sống. Từng màu sắc đều có những ý nghĩa, biểu tượng riêng. Màu trắng tinh khiết, màu đỏ tươi vui, màu hồng yêu đời, màu xanh hy vọng, màu tím thủy chung, màu vàng bội bạc… Tất nhiên tùy cảm thức của từng người mà nó trở thành thế này hoặc thế kia. Màu sắc đi vào trong thơ ca có lẽ cũng có ý nghĩa như vậy. Và từng thời đại, màu sắc cũng có điểm nhìn riêng.

Thơ Đường màu sắc thường nhạt với phong cách của thủy họa. Thơ Việt Nam ta cũng ảnh hưởng nhiều thơ Đường. Tuy nhiên đến thời đại Đặng Trần Côn, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, màu nhạt hình như không còn mấy nữa.

Ở Chinh phụ ngâm, hình ảnh chàng tuổi trẻ hiện lên rực rỡ bởi màu áo đỏ ráng pha, sắc ngựa in tuyết trắng. Ở thơ Nguyễn Du người đọc cũng từng cảm nhận màu vàng rực rỡ của hoa cúc, màu đỏ cháy của hoa lựu, màu đỏ thắm của rừng phong…

Đặc biệt thơ Xuân Hương màu sắc rất gây ấn tượng. Chạm vào thơ Xuân Hương tức là chạm vào màu sắc. Màu sắc trong thơ Xuân Hương bén ngọt như lưỡi dao cau, như in, như khắc không thể bôi xóa được. Thơ Xuân Hương không chỉ sức sống cuồn cuộn đầy ắp, âm thanh vang khua, xung động… mà màu sắc cũng tràn trề đến “trên mức tự nhiên”. Màu sắc ấy biểu hiện điều gì trong mắt nhìn của bà chúa thơ Nôm?

Đi sâu vào thế giới riêng của Xuân Hương, một thế giới lạ lẫm, hoang dại, cuồng say… thế giới ấy quyến rũ, khơi trêu khiến cho con người bước chân vào đó không thể cưỡng lại được sự thôi thúc kiếm tìm, khám phá.

Một trong những yếu tố mang hấp lực lôi cuốn ấy là khung trời của màu sắc. Bảng màu trong thơ Xuân Hương đậm, chói mắt, rất ít màu nhạt, dịu nhẹ. Những gam màu nóng, sôi nổi, cuồng nhiệt, mãnh liệt … có tác dụng sốc người ta dậy, lôi người ta ra khỏi buồn bã, chán chường, chấp nhận số phận… để vươn tới chân trời mơ ước, chân trời của khát vọng sống mạnh mẽ, của yêu thương tràn ngập, của dâng hiến tự nguyện, của sự vồ vập, với ôm hạnh phúc sợ không có nó hoặc sợ nó tuột khỏi tầm tay. Thơ Xuân Hương là vậy!

Hãy xem nàng thơ Xuân Hương thâm nhập vào cõi chín đỏ của trăng:

Một trái trăng thu chín mõm mòm
Nẩy vừng quế đỏ đỏ lòm lom

(Hỏi trăng I)

Độ chín đến mức nào mà chín đỏ đến như vậy? Trăng thu là trăng đương rằm, đã rằm hay qua rằm một chút… không cần biết chính xác. Chỉ biết độ sáng được đẩy lên hết mức. Dạng tròn cũng đã trên mức tròn. Màu đậm của ánh sáng biến thành màu đỏ nội lực, sự tròn đầy gợi sức sống căng tràn, trái chín cũng đã chín lắt lay không chín hơn được nữa. Thế nên trái trăng thu mõm mòm ấy mới có nhiều kẻ ghé mắt dòm, mới có lắm kẻ đứng lom khom, trăng có tình riêng với nước non kia mà!

Và tình riêng ấy dữ dội, sôi sục, tràn lấp, đầy ứ… không thể không trang trải, không thể không tình tự cùng nước non được! Tình riêng ấy không thể chấp nhận sự an phận tẻ ngắt Ngày xanh sao nỡ tạnh lòng son (Hỏi trăng II).

Muôn vàn tình ý gửi vào lời kêu gọi tha thiết có cả sự nhún nhường trong câu hỏi sao nỡ ấy. Lòng son then kín đợi ai từ thuở trăng cài mười ba, mười bốn đến khi quá lứa lỡ thì phong ba vùi dập, mưa nắng phũ phàng… từng mùa trăng trôi qua hao gầy… ấy vậy mà cái nông nổi, cái cuồng say, tấm lòng son thiết tha với đời vẫn cứ còn đó:

Mà em vẫn giữ tấm lòng son

(Bánh trôi nước)

Và từng đêm dài trong giấc thức canh tàn, cái hồng nhan vẫn cứ trực diện, vẫn cứ thi gan cùng non nước:

Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn
Trơ cái hồng nhan với nước non

(Tự tình II)

Cái màu son ấy thấm đẫm tình đời, tình người cho dù gặp phải những trớ trêu, nghiệt ngã. Cái màu son ấy giúp con người trụ vững trên đôi chân lội ngược dòng của mình. Cái màu son ấy chinh phục người đọc…

Màu hồng tươi tắn, duyên dáng, ngọt ngào… dễ cuốn hút mắt nhìn, Xuân Hương cũng rất chuộng:

Từng trên tuyết điểm phơ đầu bạc
Thớt dưới sương pha đượm má hồng

(Đá ông chồng bà chồng)

Với Xuân Hương Đá kia còn biết xuân già dặn, vì thế cho nên núi đá vẫn có tình, vẫn ươm hồng tình yêu cuộc sống. Chẳng trách ngày xuân phơi phới đôi lứa trẻ trung, thả hết sức mình:

Bốn mảng quần hồng bay phấp phới
Đôi hàng chân ngọc duỗi song song

(Đánh đu)

Hồng hồng má phấn duyên vì cậy

(Vịnh cái quạt I)

Màu hồng, màu ngọc của tuổi trẻ đáng yêu biết bao nhiêu! Sức đương xuân, tình đương căng đầy, màu hồng ấy nhuộm thắm thêm chất tươi trẻ trinh nguyên, chất hồn nhiên hoang sơ không dễ gì có được trong cuộc sống bon chen, tính toán, vụ lợi…

 

Những màu sắc như tối, sáng, xanh, trắng, trong, bạc tuy thuộc gam màu lạnh, nhưng Xuân Hương cũng đã pha vào đó một thứ màu đặc biệt của riêng mình. Nó không còn là màu của đất trời mà là màu của lửa lòng đang dậy, màu của tình nồng ăm ắp, màu của hương xuân thơm ngát như muốn trùm phủ cả thế gian này.

Có cái tối om om trong vòm không gian ba chiều để lắng nghe cho bằng được âm thanh thánh thót, lõm bõm huyễn hoặc, kì diệu của những giọt tình. Có nước trong leo lẻo, có cầu ván trắng phau phau để thấy được nét lạ lùng, dáng thanh tân của giếng yêu thương.

Có cái xanh rì, xanh ngăn ngắt để người chiêm ngưỡng thấy hết độ xanh chừng như có thể xuyên qua thời gian, không gian để với tới tận cùng của ước mơ, hy vọng.

Có cái sáng banh, sáng trắng ngày ra, hết ngày, hết tuổi xuân rồi mà kẻ phung phí thời gian vẫn chưa tỉnh thức? Xuân Hương không chịu nổi sự vô tâm, vô cảm với đời như vậy!

Đặc biệt bài Mời trầu, sắc màu tromg lời tự tình tạo nên giá trị thẩm mỹ cao:

Quả câu nho nhỏ miếng trầu hôi
Này của Xuân Hương mới quệt rồi
Có phải duyên nhau thì thắm lại
Đừng xanh như lá bạc như vôi.

Mượn hình ảnh trầu cau để chào mời, để bắt đầu câu chuyện, cũng là để bộc bạch một cách nửa kín, nửa hở tình cảm của mình. Quả cau miếng trầu tuy không sang quý nhưng tấm lòng Xuân Hương chân thật, trân trọng mới quệt rồi. Ca dao xưa đã từng thể hiện cái thiết tha của tấm lòng, cái chân chất của tình yêu.

Miếng trầu là miếng trầu đời
Quệt vôi em quệt cả lời trăm năm.

Không có cái chân đế vững chắc quệt lời trăm năm của ca dao, từ quệt của Xuân Hương dễ rơi vào sự phô diễn thô kệch và cũng không thể giúp người đọc nắm hết tình ý mạnh mẽ trong bài thơ.

Và cả cái màu tuyệt vời, cái màu tự tạo của chính Xuân Hương cũng rất thật, rất sâu sắc. Đó là màu thắm. Xuân Hương muốn duyên nhau phải kết và phải thắm. Bản thân màu sắc đã là điều kì diệu trong thiên nhiên. Lại kì diệu hơn khi có được một sắc màu hòa hợp.

Màu xanh của lá trầu, màu trắng của ruột cau, màu bạc của vôi, màu bạc của vôi là ba thứ thuộc gam màu lạnh. Hòa ba sắc màu riêng lẻ ấy vào nhau thì lại hóa thành màu đỏ thắm, màu của hạnh phúc. Thắm là ăn vào nhau, lẫn vào nhau, ở trong nhau, thắm đẫm không thể nào tách rời được.

Có lẽ huyền thoại tình yêu trong Sự tích trầu cau xưa đã in sâu vào văn hóa Việt, máu thịt của người Việt nên Xuân Hương không ngần ngại sử dụng nó và đẩy nó lên đến mức tuyệt đối để diễn giải tình cảm của mình.

Xuân Hương mời trầu cũng là mời duyên, mời tình. Lời mời ấy vừa gợi mở thật lòng, vừa thiết tha kì vọng, lại vừa có chút răn đe người bạn tình của mình theo ba cấp độ của một câu cầu khiến bắt đầu bằng từ đừng thông thường trong tiếng Việt. Xuân Hương vung bút nhẹ nhàng mà sắc màu cứ đâu vào đấy trùng khít, tương hợp một cách chắc chắn lạ thường.

Tay bút chơi đùa kiểu “kỳ nhông” Xuân Hương quả dã phát tiết, đã vẩy nên những mảng màu pha kỳ thú. Thế giới này tồn tại bởi tình yêu. Tình yêu là quyền năng vô biên thúc đẩy con người ươm mơ dệt ước. Con người không dừng bước chừng nào còn chưa tìm thấy tình yêu. Và sắc màu của tình yêu sẽ mãi mãi tồn tại đậm thắm trong mắt ai.

Xuân Hương pha màu vẽ đường đi trước để hậu thế giang tay đón lấy hương xuân rực rỡ thơm ngát vững bước tiếp sau. John Balaban (1) người từ bên kia đại dương xa lắc đã cho rằng Xuân Hương có tấm lòng trắc ẩn của một vị “bồ tát” (Bodhisattvao compassion).

Có là bồ tát mới thể tất nhân tình, mới tiếp cận được những khía cạnh tinh vi bén nhạy của tình cảm, mới nhìn ra sức mạnh nội lực tiềm ẩn trong mọi con người. Sự hiểu nhau thấu tình đạt lý này đủ cho ông xứng đáng dự phần vào hàng thi nhân - tình nhân tri kỉ muộn màng của một cõi thơ Xuân Hương đầy những sắc màu rộn ràng, khua động, vang vọng… bất diệt thiên thu.


(1)

John Balaban là tác giả cuốn "Spring essence - The Poetry of Hồ Xuân Hương". NXB Copper Canyon Press, Washington, 2000.