Sài Gòn - TP. Hồ Chí Minh còn chăng bản sắc thành phố ngã ba đường?

Kiến trúc là biểu hiện của văn hóa, lối sống qua nhà cửa, phố thị. Nó cũng phản ánh trình độ phát triển của xã hội về kinh tế, kỹ thuật, mức sống của con người. Sài Gòn sớm xuất hiện ở vị trí mũi nhọn của cuộc Nam tiến tìm đất sống của người Việt, trở thành tụ điểm di dân tứ xứ, nơi gặp gỡ của nhiều luồng giao lưu. Quá khứ đó đã tạo nên diện mạo và bản sắc của Sài Gòn, một thành phố ngã ba đường, khác hẳn với những đô thị truyền thống Việt Nam.

pic

Bến Nhà Rồng

Thành phố ngã ba đường

Theo định nghĩa của UNESCO, thành phố ngã ba đường là dạng đô thị mang nhiều nét văn hóa, chủng tộc, với lịch sử hình thành được đánh dấu bằng các đợt nhập cư từ nhiều xứ sở, địa phương, liên tục đổ về lập nên một thế giới thu nhỏ. Các cộng đồng đó sinh sống bên cạnh nhau hoặc đan xen vào nhau.

Ngót ba thế kỷ hình thành và phát triển, đặc biệt kể từ giữa thế kỷ XIX, Sài Gòn phát triển sớm nhất so với cả nước theo hướng đô thị hiện đại phương Tây và sớm mở ra khu vực và thế giới. Kiến trúc cận đại Pháp, tuy không to lớn nhưng dẫu sao cũng nghiêm túc, bài bản, tạo được sự hài hòa với cảnh quan chung quanh và đạt được nét thanh tú nhất định. Sài Gòn thời Pháp từng mang danh “Hòn ngọc Viễn Đông”.

Sài Gòn rõ ràng mang dấu ấn Pháp. Tuy vậy tôi vẫn nhớ câu nhận xét của tùy viên văn hóa lãnh sự Pháp ở Thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM) là ông Stéphane Dovert trong lời đề tựa cuốn sách viết nhân Sài Gòn 300 tuổi vào năm 1998: “Sài Gòn đặc biệt mang dấu ấn Pháp, nhưng Sài Gòn chưa bao giờ là nước Pháp. Nếu nó mang dấu ấn của các nhà kiến trúc Pháp thì ngược lại chính các nhà kiến trúc cũng mang nặng dấu ấn của Sài Gòn”.

pic

Thư viện Quốc gia

Thật vậy, các nhà kiến trúc Pháp khi đến Việt Nam đã nghiên cứu thời tiết khí hậu nhiệt đới khá kỹ lưỡng và đã thành công khi sử dụng tài tình kỹ thuật và vật liệu địa phương để xây dựng công trình kiến trúc, nhất là về mặt khắc phục nắng mưa Sài Gòn.

Về mặt cơ cấu văn hóa và nếp sống, trong thực tế thời Pháp thuộc ở Sài Gòn đã tồn tại song song nhiều dạng cư trú và sinh hoạt. Có mạng lưới ngõ xóm của người Việt, thành phố vườn cây của người Pháp, phố xá sầm uất của người Hoa, đường phố bán hàng tạp hóa của người Ấn. Thành phố chưa bao giờ mang tính chất đa văn hóa, đa chủng tộc như thời đó. Cho nên ở Sài Gòn, khác với bất cứ nơi nào ở nước ta, ta có thể nhìn thấy bên cạnh đình chùa Việt là chùa miếu, hội quán của người Hoa, chùa Miên, thánh đường Thiên Chúa giáo bên cạnh chùa Chà, đền Hồi giáo, đền Chàm… Các lối sống và sinh hoạt văn hóa cứ đan xen nhau. Từ đất Gia Định, Gò Vấp, Hốc Môn nửa phố thị nửa miệt vườn, ta có thể bước vào khu phố Tàu Chợ Lớn nhộn nhịp, từ quán ăn Pháp có thể xẹt vào tiệm tạp hóa Chà. Bên cạnh cộng đồng người Bắc ta lại gặp xóm thợ người Quảng, xa xa có phố người Chàm, người Khmer. Sau năm 1975, khi kiểm kê để giải tỏa nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi (nay xây công viên Lê Văn Tám) nhìn thấy mộ phần của hơn 40 quốc tịch khác nhau.

Đông đảo nhất vẫn là người Việt từ nhiều địa phương khác nhau kéo về Sài Gòn tìm đất sống làm ăn. 272 ngôi đình cùng hàng nghìn chùa miếu, hàng trăm nhà thờ, hàng chục nghĩa trang mang tên các địa phương khắp nước nói lên sự có mặt của các cộng đồng Việt đa dạng đó.

Đề cập đến các đô thị Việt Nam, trong đó có Sài Gòn, nhà báo Anh Joshua Levine trong tạp chí Kiến trúc Thế giới thừa nhận: “Không giống như các thành phố khác trong khu vực (ví như Kuala Lampur, Manila, Singapore, nơi mà thành phố “hiện đại” trở thành thần tượng văn hóa cho sự thành công kinh tế), cơ cấu đô thị Việt Nam bộc lộ cách tổ chức tế nhị hơn nhờ có lịch sử lâu đời và một quá khứ nhiều tầng văn hóa”.

“Bùng nổ đô thị” của giai đoạn 1954-1975 khi thành phố Sài Gòn vào tay người Việt, xảy ra khi quy mô dân số lẫn công trình xây dựng tăng gấp 10 lần so với thời cũ. Bộ mặt kiến trúc thành phố đã mang nhiều yếu tố của một nền kiến trúc đô thị hiện đại, so ra không thua kém ai ở châu Á vào thời điểm đó.

pic

Dinh Xã Tây

Đánh giá nền kiến trúc Nam Bộ trước 1975, nhà nghiên cứu kiến trúc-đô thị người Pháp François Tainturier nhìn nhận: “Trong khi ở miền Bắc, Hà Nội tự chọn cho mình một nền kiến trúc chính thức thường đơn điệu, thì tại Sài Gòn tồn tại đồng thời nhiều trào lưu kiến trúc, do sự kiện các kiến trúc sư được đào tạo từ nhiều nguồn khác nhau, trong lẫn ngoài nước. Có một sự đoạn tuyệt rõ rệt với ngôn ngữ kiến trúc thuộc địa Pháp. Các công trình khá phong phú phản ánh trào lưu kiến trúc “hiện đại nhiệt đới hóa”. Đã có biết bao công trình chứng minh khả năng của kiến trúc giải quyết được các vấn đề do thời tiết khí hậu đặt ra”.

Báo động về di sản kiến trúc đô thị

Trên 30 năm trở lại đây, TP.HCM tiếp nối sự phát triển của Sài Gòn luôn được xem là đầu tàu kinh tế của cả nước và nay là hình ảnh đô thị thời mở cửa, hội nhập. Nhưng phải chăng thành phố này, cũng giống như hầu hết các thành phố lớn của thế giới thứ ba, đang phải đối mặt với những vấn nạn của một đô thị hiện đại mang nét quốc tế chung chung và nhất là đang hủy diệt dần di sản văn hóa kiến trúc của mình.

Dự án đại lộ Đông Tây đã làm biến mất Bến Bình Đông - một di sản kiến trúc, văn hóa của Sài Gòn-TP.HCM trong lịch sử 300 năm phát triển. Kiến trúc rất riêng (Hoa trộn Pháp) của dãy nhà cổ và hệ thống nhà kho trên đường Trần Văn Kiểu đã biến mất. Theo KTS Lưu Trọng Hải, sự “ra đi” của Bến Bình Đông là điều đáng tiếc trong lịch sử phát triển đô thị của TP.HCM.

Và, trước xu hướng phát triển hiện nay, nhiều công trình kiến trúc có giá trị lịch sử - văn hóa đặc trưng của TP.HCM sẽ còn tiếp tục bị đe dọa. Ngay cả những công trình, cụm công trình từng đem lại bản sắc cho “Hòn ngọc Viễn Đông” như Nhà thờ Đức Bà, Bưu điện thành phố, đường Đồng Khởi, trụ sở UBND thành phố, khu biệt thự ở quận 3… cũng khó tránh khỏi tình trạng tương tự.

pic

Kiến trúc cũ mới đan xen

Nói như KTS Ngô Viết Nam Sơn thì cái lõi của khu trung tâm thành phố - khu trung tâm lịch sử - đang bị “phá phách” bởi hàng loạt cao ốc (đã, đang và sẽ mọc lên). Gần đây nhất là hình ảnh khối nhà Diamond Plaza và ba tòa tháp Kumho lù lù mọc lên đã đè bẹp Bưu điện có lối kiến trúc mái vòm độc đáo và Nhà thờ Đức Bà mang phong cách Gothique và Roman Pháp. Thực tế, nhiều khu vực quanh các công trình có giá trị lịch sử như Nhà hát thành phố, khách sạn Continental, trường Lê Quý Đôn, trụ sở UBND thành phố… đang bị “cấy” các cao ốc vào.       

Dễ thấy là khối cao ốc khách sạn Caravelle nới rộng đã làm cho không gian Nhà hát thành phố trở nên nhỏ nhoi. Sự uy nghi của Dinh Thống Nhất cũng giảm đi khi nhiều cao ốc ken nhau chạy dọc theo đường Nguyễn Thị Minh Khai… Nhiều con đường trước đây có không gian tuyệt đẹp như Lê Duẩn, Đồng Khởi, Nguyễn Văn Cừ, Pasteur, Nguyễn Đình Chiểu… nay đã bị “bê tông hóa trên cao”, như nhận xét của TS Nguyễn Minh Hòa. Hay những cao ốc trong khu biệt thự quận 3 cũng đã phá đi lối kết cấu không gian thấp tầng đặc trưng trước đó.

Đến từ New York (Mỹ), nhà quy hoạch đô thị Thomas Wright cho rằng nói đến bảo tồn không chỉ nghĩ đến việc bảo tồn các di tích mà phải bảo tồn không gian quanh di tích, kể cả không gian công cộng. Ông cho biết, ở New York người ta nhìn vấn đề bảo tồn lịch sử rộng hơn - bảo tồn cả khu vực, coi khu vực đó có nét gì đặc trưng thì bảo tồn. Bảo tồn là phải xem xét, nghĩa là khi quy hoạch phải tính đến việc khi xây dựng những công trình mới không được phá vỡ cảnh quan, không gian khu vực.

pic

Bảo tàng cổ vật

Cùng quan điểm đó, người từng quy hoạch đô thị Nam Sài Gòn là KTS Kathrin Moore cho rằng: “Nhà đầu tư dự án bất động sản  thường chỉ chăm chút cho không gian kiến trúc của công trình mà quên mất không gian văn hóa của cả khu vực. Trong khi vấn đề phát triển các khu đô thị cũ rất cần sự hài hòa về kiến trúc cũ và mới… Tôi từng làm việc ở Việt Nam từ năm 1990, lúc đó TP.HCM có rất nhiều kiến trúc cũ và chính những kiến trúc này tạo bản sắc cho thành phố; nhưng nay quay lại thì nhiều cao ốc đã làm hỏng không gian hài hòa của những kiến trúc đó. Khu trung tâm phát triển quá tự phát và chiều theo nguyện vọng của nhà đầu tư”.

Trong nhiều cuộc hội thảo về di sản kiến trúc, bản thân tôi cũng luôn chủ trương rằng bảo tồn là phải giữ lại cho được cái “hồn đô thị” các khu trung tâm thành phố. Vì cái hồn đô thị chính là quá khứ - ký ức tập thể của một xã hội - lịch sử gắn kết dân cư một cộng đồng. Vì vậy ta không nên ủng hộ khuynh hướng đập bỏ cái cũ để xây nhà cửa hiện đại. Các đồng nghiệp của tôi ở Bắc Kinh và Singapore đã hối tiếc là thành phố của họ đã vội vã và nông cạn khi xóa đi di sản kiến trúc đô thị!

Nước nhà thống nhất về một mối, Sài Gòn nay là TP.HCM chưa hề đánh mất vai trò thành phố ngã ba đường của chính mình. Chính sách mở cửa giao lưu với thế giới càng làm nổi bật vai trò nối kết một nước nông nghiệp châu Á vào thế giới đương đại bằng khí phách và năng lực của chính mình. Nhưng phải chăng về mặt văn hóa, TP.HCM đang tự đánh mất dần bản sắc của mình do chưa đề ra được một kế hoạch bảo tồn di sản kiến trúc và kiên quyết thực hiện được nó vậy?