Suy nghĩ từ cuốn sách "Chân trần chí thép"

Cuốn sách nhan đề Chân trần chí thép của James G.Zumwalt xuất bản ở Mỹ tháng 4/2011, sau đó được chuyển dịch sang Việt ngữ, đang lưu hành rộng rãi và được sự đón nhận của người đọc với lòng thiện cảm.

Bìa cuốn sách Chân trần chí thép.

Xuất thân từ một dòng tộc có truyền thống binh nghiệp, ba cha con ông James G.Zumwalt đều có thời gian trực tiếp tham chiến ở Việt Nam. Thân phụ ông là Đô đốc Elmo R. Zumwalt, Jr. – từng là tư lệnh Hải quân Mỹ ở Việt Nam. Anh ông là sĩ quan chỉ huy một giang thuyền chiến đấu và ông là sĩ quan Thủy quân lục chiến. Chính Đô đốc R.Zumwalt là người khởi lệnh dùng thuốc diệt cỏ màu da cam phát quang cây cối từ vùng rừng núi tới vùng duyên hải và ven các sông rạch là địa bàn hiểm yếu của chiến tranh du kích.

Kết quả là số thương vong của Hải quân Mỹ giảm hơn năm lần mỗi tháng, nhưng bởi hành động ấy mà binh lính dưới quyền đã “trở về nhà với những quả bom hóa học nổ chậm trong người”. Và tai họa trực tiếp giáng xuống chính đời ông: Đứa con trai – Đại úy Elmo R. Zumwalt III, người anh của James – bị nhiễm chất độc dioxin có trong thuốc diệt cỏ và chết ở tuổi 42 vì căn bệnh ung thư hạch bạch huyết trước sự dày vò ân hận của ông! Chẳng những thế, con trai của James cũng mang dị tật của bệnh Down! Vợ ông thừa nhận rằng vì sợ còn mầm bệnh di truyền mà không dám sinh thêm con nữa.

Tuy nhiên với James, dù cuộc chiến đã kết thúc nhưng suốt nhiều năm sau đó ông vẫn mang nặng những định kiến hận thù sâu xa với đối phương. Cho đến năm 1994, khi cùng cha qua Việt Nam, trong đầu ông vẫn “luôn có một niềm tin xác quyết rằng trong chiến tranh Việt Nam, lực lượng phi nghĩa đã chiến thắng phe chính nghĩa!”. Những phút đầu tiếp xúc với những sĩ quan từng là đối phương, trong ông “cơn giận dữ không ngừng dâng lên và nghĩ rằng, lẽ ra họ không được đứng trước mặt tôi với tư cách là người chiến thắng – bởi đó chỉ là số phận, định mệnh chống lại chúng tôi mà thôi”.

Nhưng chỉ qua mấy buổi gặp gỡ, ông đã thay đổi nhanh chóng và “chợt thấy mình đã bắt đầu nhìn về cuộc chiến tranh với một nhận thức hoàn toàn mới”. Ông cảm thấy mỗi lần tiếp xúc với họ ông lại phát hiện ra điều mới lạ.

Cuộc tìm hiểu kiên trì gần 20 năm, ông qua lại Việt Nam hơn 50 lần, tiếp xúc với gần 200 nhân chứng là du kích địa phương, bộ đội chủ lực, sĩ quan chỉ huy các cấp và thường dân là nạn nhân chiến cuộc, cái nhìn về cuộc kháng chiến của người Việt Nam, về con người Việt Nam với ông đã hoàn toàn thay đổi. Dù biết rằng, “cuốn sách này không dễ viết” bởi không dễ thuyết phục một bộ phận không nhỏ sĩ quan binh lính đồng đội và những người đồng hương của ông do họ khó chấp nhận một thất bại cay đắng duy nhất đầu tiên trong lịch sử một cường quốc đầy tự hào về sự giàu có và sức mạnh.

Nhưng với sự làm việc khoa học, nghiêm túc, trung thực, với lòng nhân ái trong sự thức tỉnh dù có muộn màng, ông mong muốn cuốn sách như một sự hóa giải những sai lầm của cha con ông, đồng đội của họ và của chính giới Mỹ thành tiếng nói hòa giải để chính quyền Mỹ và những người Mỹ thiện tâm có những việc làm thiết thực hơn trong việc hàn gắn vết thương chiến tranh ở Việt Nam. Tiếng nói của ông không phải là sớm, cũng không phải là lạc lõng trong khi ở Mỹ, ngày càng có những lời phê phán nghiêm khắc nặng nề cất lên từ nhiều phía về cuộc chiến tranh phi lý phi nhân đó.

McNamara – bộ óc điện tử của nước Mỹ, một trong số người hoạch định cuộc chiến tranh đó viết trong hồi ký: “Chúng ta đã sai lầm, sai lầm một cách tồi tệ. Chúng ta nợ các thế hệ tương lai câu giải thích tại sao!”. Tướng bốn sao Westmoreland – Tổng chỉ huy liên quân Mỹ - Việt - Đồng Minh bẽ bàng thốt lên lời cay đắng: “Trong cuộc chiến tranh này, chúng ta không có những anh hùng, chỉ có những kẻ ngu xuẩn! Tôi là một trong những kẻ ngu xuẩn đó!”. Phải chăng vì từng trải, vì nỗi đau mất con mà Đô đốc R. Zumwalt dễ nhìn ra sai lầm và ông là một trong số ít tướng lĩnh Mỹ hàng đầu sớm ủng hộ sự bình thường hóa quan hệ với Việt Nam và có những việc làm thiết thực hỗ trợ những nạn nhân bị nhiễm chất độc dioxin trong thuốc diệt cỏ màu da cam?

Thực ra, với những chiến sĩ Việt Nam yêu nước từng có mặt trong cuộc đối đầu lâu dài, gian khổ, khốc liệt ấy thì những sự kiện mà G.Zumwalt phát hiện ra không có gì lạ và không thể nào đầy đủ được. Bởi đây là cuộc kháng chiến trường kỳ, toàn dân, toàn diện. Ở Việt Nam thì đâu cũng là chiến trường và ai cũng là chiến sĩ bất kỳ già trẻ gái trai.

Trong các sự kiện, tác giả nêu ra chỉ có một điều chưa đúng với sự thực về nguyên do vào cuối tháng 12/1972, người Mỹ dùng máy bay B52 ném bom suốt 12 ngày đêm hủy diệt thủ đô Hà Nội, giết chết hàng vạn thường dân trong đó có cả những thầy thuốc và người bệnh. Tất nhiên, tác giả dựa vào tư liệu của Lầu Năm góc cho rằng, đối phương xảo trá, chỉ muốn lợi dụng đàm phán để chiến sự dây dưa, kéo dài thời gian quân Mỹ rút hết ra khỏi miền Nam nên cần phải ra đòn cứng rắn.

Sự thật là khi đó hiệp định đã được hai bên ký tắt, chính Kissinger tuyên bố “hòa bình đã nằm trong tầm tay” nhưng chính quyền Sài Gòn phản ứng quyết liệt buộc người Mỹ phải ra cú đòn cuối cùng dù biết là thất nhân tâm, hòng ép đối phương chịu hủy bỏ những điều khoản bất lợi cho Sài Gòn một khi người Mỹ không còn ở đây! Nhưng mọi sự đã qua rồi, dù Hà Nội phải chịu thêm tổn thất lớn lẽ ra không đáng có!

Tuy nhiên, việc làm của tác giả thật đáng trân trọng bởi ông là một sĩ quan, một nhà báo nhiệt tâm đã gạt bỏ được những mặc cảm hận thù mang nặng trong lòng, cất lên tiếng nói trung thực như sự đồng cảm với những người từng là đối địch, nhằm hòa giải những mối bất đồng để hai dân tộc xích lại gần nhau, trong mối quan hệ hòa bình hữu nghị, quả là một sự dũng cảm mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc. Sau khi đưa ra những chứng cứ và chứng nhân chọn lọc, tác giả tóm gọn trong lời nhận xét: “Ở Mỹ, những người lính tham gia thế chiến II trong hoàn cảnh nguy nan trước sự tồn vong của tổ quốc và nhân dân họ đã được coi là Thế hệ vĩ đại nhất và sai lầm lớn nhất của chúng ta (người Mỹ) tại Việt Nam là đã không nhận ra rằng, chúng ta đang chiến đấu với Thế hệ vĩ đại nhất của đất nước này!”.

Trùng dịp này có một hãng buôn Nhật giỏi làm tiếp thị đã trao “giải thưởng văn học” (!) cho cuốn tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh (xuất bản 1991), thổi nó lên vào loại “tinh hoa của văn học thế giới”! Ông nhà văn tâm sự: “Chiến tranh hoàn toàn phi lý, nhưng có lẽ nỗi buồn chiến tranh lớn nhất chúng ta nhận thấy sau cuộc chiến đó chính là giữa ta và kẻ thù giống nhau tới nhường nào”! Xem ra nó giống thứ triết lý sinh ra từ một cuộc chiến tranh hồi đầu thế kỷ: “Chiến tranh tàn phá chúng ta về mọi mặt! Thế hệ lớn lên sau chúng tôi sẽ xa lạ với chúng tôi và gạt bỏ chúng tôi. Chúng tôi là những kẻ thừa ngay cả với chính mình”! (E.M.Remarque - Mặt trận miền Tây vẫn yên tĩnh)

Chuyện qua đi mấy chục năm rồi, nỗi buồn về cách nhìn mơ hồ với tính chính nghĩa của cuộc chiến tranh bảo vệ tổ quốc của nhân dân ta như một nhà giáo lão thành đã nói giống như “sự sám hối của những người anh hùng đã lỡ gây nên một sự nghiệp anh hùng” tưởng đã nguôi đi, giờ lại nhói lên: “Kẻ phi nghĩa sám hối mà cả người anh hùng cũng sám hối. Thế là huề! Thế là thiện ác đảo điên, chính tà lẫn lộn, vinh nhục bất phân!”.

Cùng vào thời điểm ấy, cuốn tiểu thuyết Ăn mày dĩ vãng ra đời và cũng được nhận những giải thưởng cao, đã làm nổi lên sự bất bình trong công luận. Để nói lên những phức tạp của thời hậu chiến tác động trực tiếp tới người lính sau những năm tháng nhọc nhằn hiểm nguy thoát chết trở về sống vất vưởng bên lề xã hội, trong tâm trạng bức xúc, người viết cũng có cái nhìn thiên lệch, miêu tả người lính chiến đấu để giải phóng quê hương mình không khác một tên đầu gấu hung hãn, tàn bạo, khát máu, dung tục, bạt mạng, giả dối và những điều tốt xấu anh làm đều vô thức.

Anh ta và đồng đội không khác gì một tên thủ lĩnh rừng xanh với một lũ lâu la quen nghề chém giết và thói dâm ô thác loạn. Cuộc chiến đấu của lũ người ấy trong cả chục năm chẳng khác gì “Cơn động tình bạo lực nghiền nát cơn động tình sinh lý. Bản năng nghiền nát bản năng. Cái tỉnh táo diệt cái mê cuồng. Cái không có gì tiêu hủy cái đang có tất cả… Cuối cùng là để không có gì”! Đồng thời, nếu không là sự phản bội cũng là ác ý với đồng bào đồng đội đã yêu thương, đùm bọc và cùng anh chiến đấu đến ngày anh được đeo lên cổ một quá khứ đầy tự hào và mong dựa vào đó mà “ăn mày” vào cái “dĩ vãng” tồi tệ của một người lính hư hỏng và bốc phét!

Chẳng thế mà anh ta đã “vất cha nó quá khứ vào đống rác bên đường mặc cho ruồi nhặng kéo đến làm tình đẻ dòi đẻ bọ chơi”! Hội Cựu chiến binh TP.HCM đã có cuộc tọa đàm và gửi kiến nghị lên các cơ quan quản lý cấp cao. Trên báo Cựu chiến binh TP.HCM tháng 10/1995, trang 25, có đăng một thông tin ngắn như sau: “Ngày 19/9/1995, Ban chấp hành Hội CCB Thành phố đã tiếp Thiếu tướng Hồ Phương, đại diện Tổng cục Chính trị (TCCT). Cùng đi có Thiếu tá Nguyễn Quốc Trung, đại diện tạp chí Quân Đội Nhân Dân. Đ/c Hồ Phương truyền đạt lại ý kiến chính thức của TCCT: “Cảm ơn sự phát hiện tỉ mỉ, chính xác của Hội CCB TP.HCM đối với những sai sót của nhà văn trong cuốn Ăn mày dĩ vãng. TCCT đánh giá trong cuốn tiểu thuyết này có những sai lầm về quan điểm và tư tưởng. TCCT đã đề nghị với Ban VHTT TW, Hội NVVN cho ngưng tái bản cuốn tiểu thuyết Ăn mày dĩ vãng và ngưng chiếu phim, ngưng diễn vở kịch Đi tìm dĩ vãng chuyển thể từ tiểu thuyết trên”.

Nhưng sau đó tất cả đều im lặng, không có một thông báo cải chính nào từ cơ quan hữu trách! Vậy giữa những người dân và chiến sĩ từng trải qua những tháng năm gian khổ của cuộc kháng chiến với tinh thần “chân trần chí thép” ấy cùng cơ quan lãnh đạo văn hóa tư tưởng các cấp và người viết, có ai mang nợ ai không?

Một người thơ nhà binh được mời qua thăm Mỹ quốc, trong phút xuất thần ông ta buột khẩu ra: “Suốt cuộc chiến tranh (với Mỹ), tôi (nhà thơ đó) chỉ bắn có ba lần và toàn bắn chỉ thiên”! Không biết trong khẩu khí ấy có mùi rượu mạnh? Hoặc để tỏ ra lòng người thơ đậm chất nhân văn? Ông ta quên rằng, mấy mươi năm trước, những viên đạn bắn ra từ nòng súng của người lính Mỹ không tính chừa ông! Vậy mà nhà thơ nhắm mắt bắn lên trời! Người chiến sĩ Giải phóng quân Việt Nam nào cũng vậy thì làm sao có ngày người thơ ấy được ngồi chung với họ để bàn chuyện văn chương?!

Và hàng triệu chiến sĩ đang nằm trong hàng ngàn nghĩa trang liệt sĩ hoặc trong những xó rừng góc ruộng trên mọi miền đất nước có thể nào yên được?

Đem so sánh cuộc chém giết tương tàn giữa hàng chục quốc gia trong hai phe đế quốc tranh giành nhau quyền lợi trong chiến tranh thế giới I (1914-1918) với cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc mình trước đội quân viễn chinh xâm lược là sự xúc phạm với tất cả người Việt Nam. Bản chất cuộc chiến tranh đã khác thì tâm tư người lính chẳng thể giống nhau. Lòng dũng cảm có thường trực trong những con người hành động vì mục tiêu cao cả rõ ràng. Nó khác với sự liều lĩnh điên khùng nổi lên từng lúc của những người bị đẩy ra chiến tuyến mà trong lòng ôm nỗi bất bình.

Có đúng không khi người ta níu vào thứ triết lý hư vô: “Không có cuộc chiến tranh nào là chiến thắng với những bà mẹ mất con”?! Một bà mẹ khi nghe tin đứa con trai út hy sinh, bà tìm lên căn cứ báo cho anh Hai nó là chiến sĩ tình báo Nguyễn Văn Tào (Tư Cang). Bà nói rành rọt gọn gàng từng câu không để một giọt nước mắt chảy ra: “Bị khui hầm… Nó chống trả tới lúc hết đạn… Chết vậy mà tao chịu chớ đầu hàng thì nhục lắm!”. Không một bà mẹ nào muốn đẩy con mình vào chỗ chết, nhưng mất nước là nhục lắm, làm thân nô lệ là nhục lắm!

Đó là kinh nghiệm sống truyền đời của người Việt, nên giang sơn Việt mới còn đến hôm nay. Hòa bình đã bao năm mà nhiều bà mẹ vẫn không biết con mình gửi xương cốt ở đâu, nhưng niềm tin chắc chắn là họ đang nằm trong lòng đất mẹ thay lời an ủi mẹ con rồi sẽ gặp nhau. Những bà mẹ này có khác bà mẹ đi biểu tình đòi trả xác con về? Cái chết của những đứa con ấy có khác gì nhau? Phải chăng đó là tính nhân văn cao cả của “chân trần chí thép” Việt Nam.

Khi điều đúng sai chưa được minh định rõ ràng chỉ đưa lại những hậu quả ngày càng u ám nặng nề. Không ít tác phẩm bôi xấu các anh hùng dân tộc cùng những sự kiện hào hùng của lịch sử, cứ lần lượt xuất hiện trước sự hững hờ của cơ quan hữu trách., ngoài những tiếng than phiền cất lên của vài người thấy không thể nào im đặng trên mấy tờ báo ít được dư luận quan tâm. Phải chăng lịch sử đang bị làm hoen và những con người chiến đấu vì nghĩa cả cho Tổ quốc đang bị bôi đen?

Những tác phẩm văn học nhìn lịch sử dân tộc tối đen như thế, nhìn lớp cha anh lem luốc như thế đã làm gia tăng quá trình biến tướng xã hội ta trước lớp trẻ hôm nay, đang sinh ra một lớp người không tin ai, không yêu ai và chỉ biết sống vì mình! Cái họa ngoại xâm đang rập rình nơi biên giậu không chỉ là mối lo, mà là nguy cơ mất còn của Tổ quốc chúng ta. Âm mưu diễn biến hòa bình hôm nay có từ ngoài, chỉ là tác nhân phụ trợ mà nguy cơ chính yếu sẽ bung ra từ những mâu thuẫn nội tại tự tàn phá chính đất nước mình…

James Zumwalt - tác giả cuốn sách Chân trần chí thép