Út Miến – người con gái Vu Gia

Xuân năm 2012, vào tuổi 84, Út Miến kể:


- Mùa xuân 1942, khi hai ông Nguyễn Kim Thành (Tố Hữu) và Huỳnh Ngọc Huệ vượt ngục Đắc Lây, về đến Quảng Huế, Đại Lộc, vào nhà anh chị Hậu, hai người quyết định chia tay. Anh Hậu đang ở tù, chị Hậu đưa áo quần cho hai người đóng vai đàn bà rồi Huỳnh Ngọc Huệ đi Đà Nẵng, còn Nguyễn Kim Thành thì đến nhà cha mẹ Út Miến…

 

Đúng như Tố Hữu đã nhớ:


“Huệ đi theo hướng ra Đà Nẵng, còn tôi ngược lên nhà anh Tống mà tôi rất quen thuộc vì trước đây lúc còn đi học, đã về chơi vài lần. Vào đến cổng thì thấy nhà trên có khách, tôi đi xuống gian bếp, vừa gặp chị Chính vợ anh Tống, chị nhìn tôi ngơ ngác không biết là ai, tôi bèn bỏ khăn trùm đầu và nói: - Tôi là Thành đây, vừa trốn tù về, nhờ ông bà và chị giúp đỡ. Đã biết mặt tôi từ trước là bạn của anh Tống, chị liền giấu tôi vào buồng, đem bánh tét cho tôi ăn. Trên nhà khách đã về, cụ Trần Cảnh, thân sinh anh Trần Tống được biết tôi đến, liền vào buồng thăm tôi. Cụ vốn là một nhà Nho yêu nước, biết tôi là đảng viên Cộng sản, bạn thân của anh Trần Tống nên tỏ ý vui mừng nói: - Anh được về là tốt.

Cụ hỏi: - Anh có biết chữ Hán thì viết một chữ vào lòng bàn tay để tôi xem vận hạn thế nào. Tôi dốt chữ Hán nhưng cũng viết được chữ Xuân. Ông cụ xem rồi cười khà khà: - Thế là may rồi, bảo toàn. Cụ bảo: - Nhà còn hai thằng nhỏ đang hoạt động, thằng Hãnh và thằng Hãn đó, nhưng hai đứa rải truyền đơn rồi, đi từ sáng sớm, chưa biết thế nào, có yên được không. Nghe nói thế, tôi thấy ở đây khá nguy hiểm. Ông cụ thân sinh anh Tống vốn là nhà Nho yêu nước, lại có con đi làm cách mạng, đang ở tù, kẻ địch không thể để yên. Ông cụ gọi chị Tống vào và bảo: - Con đem chú này đi lánh tạm trên đồi gò, có rừng già và tiếp tế cho chú. Thế là vừa chập tối, chị Tống đưa tôi ra khỏi làng, lên một đồi cây rậm có một miếu thờ và bảo: - Anh cứ yên tâm ở đây mấy hôm, nếu yên thì lại về nhà rồi sẽ tính việc móc nối sau. Chị để lại cho tôi hai đòn bánh tét để ăn tạm vài ngày rồi ra về. Đêm ấy và cả ngày hôm sau, tôi lắng nghe có động tĩnh gì không.

Nhà thơ Tố Hữu

Đến chập tối, thấy trong làng đỏ rực, chắc là bọn lính về làng vây ráp. Tôi ráng đợi đêm khuya, không thấy gì nữa. Bỗng thấy chị Tống lên đồi và nói: - Hai chú Hãnh và Hãn bị bắt rồi, bị nó đánh dữ lắm nên tôi lên báo anh biết để cẩn thận. Chị lại đưa thêm cho tôi hai đòn bánh tét, ấm nước chè. Thế là tôi ở trong miếu suốt cả ba, bốn ngày rất yên ổn. Bất ngờ một buổi trưa có người lên đồi đi cắt cỏ tranh, lên đến gần miếu hít thở mấy cái rồi nói to: - Không biết trên đồi này có ai không mà nghe có mùi phân thối. Nói xong hắn chạy ù xuống chân đồi. Tôi sực nhớ mấy hôm đau bụng chôn phân không kỹ, nên mới bốc mùi, có thể lộ. Bèn chạy một mạch về phía rừng rậm để lánh tạm, lúc đó tôi đang lên cơn sốt rét thế mà sau khi chạy đến rừng thì toát mồ hôi ướt đẫm nên cũng mát người hơn. Lắng nghe đến tối, không thấy động tĩnh gì, tôi lại mò vào miếu trên đồi.

Một lát sau thì chị Tống đến và bảo: - Ở đây gần nhà quá, không tiện, để con Miến em tôi đưa đến nhà anh Hiến tiện hơn. Thế là đêm đó, chúng tôi băng đồng đến nhà anh Hiến ở gần Bàu Ông. Thấy tôi đang bị sốt, chị Hiến liền nấu cháo hành cho ăn. Tôi ngủ thiếp một giấc dài bỗng giật mình tỉnh dậy, nghe tiếng mõ đánh râm ran trong làng. Anh Hiến bảo tôi: - Bọn nó đang lùng đấy, để tôi đưa anh xuống thuyền lên vùng đồi gần đây kín hơn. Đến nơi, anh đưa tôi vào một cái lều và nói: - Ở đây có mấy con trâu, anh giả là người giữ trâu trên đồi này, chẳng ai biết đâu. Thế là tôi ở đây với con trâu liền mấy ngày, thức ăn vẫn là đòn bánh tét nhà anh Hiến cho. Cơn sốt cũng dần dần lui, tôi nói với vợ chồng anh Hiến tìm cách đưa tôi về Đà Nẵng (như đã hẹn với anh Huệ khi chia tay). Thấy tôi áo quần rách rưới quá, chị Hiến cho tôi một bộ quần đen còn lành, một lọn tóc giả và khăn trùm đen che kín cả hai tai. Anh bảo thằng con trai 13 tuổi tên là Trần Lộc đưa tôi đi đường. Cháu gánh hai sọt cỏ tung tẩy đi trước, tôi đi sau tay cầm nải chuối và một thẻ hương như người đi thăm mộ. Về đến gần Đà Nẵng thì tôi thuộc đường, bảo cháu Lộc về, tôi đi một mình…

Đến gần ga Đà Nẵng, nơi đã hẹn anh Huệ, nhìn lên tường thấy dán một giấy truy nã có tấm ảnh đúng là mặt mình, cũng hơi chợn. Nhưng chẳng thấy anh Huệ đâu. Sau này mới biết Huệ vừa đến Đà Nẵng thì bị sốt cao, nằm bất tỉnh bên đường, có anh xe kéo thương tình đưa vào bệnh viện cứu chữa, thì anh liền bị nhận diện là tù trốn đang bị truy lùng. Anh bị bắt lại ngay và bị đưa đi an trí Đắc Tô…”.


Út Miến nhớ:


Cái miếu mà chị Tống đưa anh Thành lên ở là miếu Thừa Bình. Ở đây ba ngày đêm thì anh Thành nhận ra ông từ giữ miếu thấy người lạ nên chuyển anh Thành vào núi Cổ Na. Tại đây, anh sợ bị lộ vì có một người nói nghe mùi thối, nên cha bảo chuyển đến nhà chị Hiến, vẫn thấy không an toàn nên ban ngày phải vào ở trong núi, ở nhà lo nấu cơm, gói để đó, cha tôi chuẩn bị cả thuốc sốt rét và thuốc đau bụng…, khuya anh Thành mò về nhà lấy mang vào núi, vào đồi. Bọn chính quyền địa phương luôn cho người rình rập nhà cha mẹ tôi. Một hôm, Quận trưởng Phạm Ngọc Cẩn đến tận nhà gặp cha, thăm dò thái độ của ông:


- Nghe cụ quẻ giỏi trong làng, cụ đoán cho tôi quẻ.


Nhìn viên Quận trưởng từ đầu xuống chân, rồi nhìn thẳng vào mặt, cụ Trần Cảnh nói:


- Tôi thấy thần sắc ông Quận không yên. Ông Quận đang truy tìm ai đó phải không?


- Nếu tìm, thì nên truy theo hướng nào, thưa cụ?


- Một thân một mình, gặp hoạn nạn, lại đói đau, người ấy không thể đi vào hướng Tây mà đi vào hướng Nam.


- Vì sao lại vào hướng Nam? - Quận trưởng có phần ngạc nhiên. Bấy giờ quân lính của Phạm Ngọc Cẩn đang lùng sục trong xóm thưa nhà bên kia Núi Lở. Chúng tăng quân cố lục tìm trong hốc núi, nhưng sợ. 


- Hướng Tây chỉ có núi, rừng, không người, vào đó thì chết đói…


Trong Núi Lở có Bàu Ông, gần nhà cô Hiến. Mấy ngày ở đây, ông Trần Cảnh sai cô Út Miến đi chợ, nấu ăn, mang thức ăn và đem thuốc sắc cho Nguyễn Kim Thành uống…

Bà Út Miến


Chính quyền trong tay, lệnh truy nã tù trốn trại đến khắp nơi, quân lính và tay sai vây ráp tứ bề, địch đã bắt được Huỳnh Ngọc Huệ. Còn Nguyễn Kim Thành thì rời vùng núi đồi phía Tây xã Đại Quang, Đại Lộc, đi về phía Đông, mất liên lạc với bạn Huệ, rồi biệt vô âm tín…


Mười lăm năm sau, vào đêm sinh nhật Bác, ngày 19/5/1957, hai cán bộ Huyện ủy Đại Lộc là Trương Anh Ta và Lê Văn Mính đến nhà ông Trần Cảnh, sau khi bàn công chuyện với Trần Thị Trung và Nguyễn Thị Đoan, ăn khuya, nhận gạo, mắm, thuốc Tây của gia đình cho thì đã khuya, trăng sáng vằng vặc… Hai người vừa bước ra tới cổng thì bất ngờ có hai tên từ trong bụi nhào ra ôm chầm hai người, cố bắt sống. Trước cái chết, hai cán bộ chống trả quyết liệt cùng hai phát súng nổ, một tên trong bọn bị trúng đạn. Thoát ra khỏi vòng vây của bọn tay sai, hai cán bộ băng qua đám đất cày tháng 5, chạy vào rừng Thừa Bình.


Trong đêm nghe súng nổ, bọn dân vệ từ cái đồn phía dưới chạy lên, nổ súng thị uy. Tức thì, trống mõ vang lên, đèn đuốc sáng trưng. Từ đó đến sáng, cả làng Thừa Bình không ai ngủ được.


Không bắt được hai Cộng sản nằm vùng để lập công lấy thưởng; một tên trúng đạn, bị thương nặng rồi chết. Tức thì, sáng sớm hôm sau, bọn chúng kéo đến nhà ông Trần Cảnh bắt cô con gái thứ ba là Trần Thị Hiến, cô con gái út Trần Thị Trung (Miến) và cô cháu ngoại Nguyễn Thị Đoan. Sau khi tra hỏi tại trụ sở xã Lộc Mỹ, chúng tách hai dì cháu mà chúng thừa biết là đảng viên và cơ sở của Chi bộ Thừa Bình - Lộc Mỹ, đưa xuống nhà giam Ty Cảnh sát Hội An, Quảng Nam.


Trần Thị Trung, có chồng là ông Hứa Toản, từng làm Bí thư Huyện ủy Đại Lộc trước khi tập kết ra Bắc năm 1954, để lại quê nhà người vợ trẻ và hai con nhỏ cho ông bà ngoại các cháu. Là nhà Cộng sản nòi, nên Trần Thị Trung nằm trong danh sách “gia đình liên đới’’, bị bắt  học tập, xếp vào loại đặc biệt chú ý. Hàng chục lần Trần Thị Trung bị bắt, bị đánh đập vẫn không hé răng, không nhận là một đảng viên, là một Bí thư chi bộ, không nhận tiếp tay cho Cộng sản. Trước mặt cảnh sát thẩm vấn, Trần Thị Trung cố giữ bình tĩnh, nhưng trên gương mặt đẹp của người thiếu phụ thì trông rất giận và ấm ức:


- Ông nớ. Ông Ân nớ nhiều lần đến nhà chọc ghẹo tôi, lần này thì trong đêm nhà chỉ có đàn bà con gái, hai ông đến, tay cầm súng, đòi hiếp, tôi chống cự, không hiểu sao, nghe súng nổ ngoài sân. Án mạng xảy ra. Chỉ có vậy, có biết Cộng sản chi mô, chỉ có hai ông cự nự nhau rồi nghe súng nổ.


Nghe dì  khai, cô Đoan cũng khai theo hướng của dì.


Sau khi bắt giam ba dì cháu, hội đồng Lộc Mỹ, cảnh sát ngụy huyện Đại Lộc kéo đến niêm phong nhà  ông Trần Cảnh, chúng lội ra cả đám đất cày tìm cho ra hai cái vỏ đạn của hai phát súng làm chết một dân vệ.


Tra hỏi, không có một lời khai. Cả tháng lục soát, mò tìm không có một bằng chứng, buộc tội thì không ai nhận mà lại vạch mặt tên xã trưởng cái tội ức hiếp phụ nữ có chồng Cộng sản. Giam đến tháng thứ hai thì chúng kết cung và thả ba dì cháu. Một năm sau, ba dì cháu nhận được giấy ra hầu Tòa hình sự Đà Nẵng. Sau khi nghe các bị can trả lời công khai trước Tòa, Tòa buộc tội xã trưởng Ân mười năm tù về tội giành gái, cố sát gây án mạng, phải bồi thường cho nạn nhân Thiếu Huých 10 ngàn đồng. (Thời bấy giờ lương của một Trưởng ty trên dưới 10 ngàn đồng).
Ba dì cháu trắng án!

Đồng chí Tố Hữu (bìa trái) và lãnh đạo tỉnh Quảng Nam đến thăm bà Trần Thị Hiến và anh Trần Tống


Ba mươi năm sau, vào mùa xuân năm 1973, trong cuộc hành trình “Nước non ngàn dặm”, khi qua Bến Giằng, tìm đến làng Rô, Tố Hữu đã thốt lên:


Ôi làng Rô nhỏ của tôi…


Và  nhớ đến một người con gái (cô Đở con ông già Để):


Thương em, cô gái sông My
Nắm xôi đưa tiễn anh đi qua rừng…


Mười năm sau chuyến đi lịch sử đó, vào mùa xuân năm 1983, khi là một Ủy viên Bộ chính trị, Phó Thủ tướng Chính phủ, một nhà thơ lớn, bận trăm công ngàn việc, Tố Hữu đã về làng Thừa Bình, Đại Lộc thăm bà Trần Thị Hiến và gia đình Út Miến - người con gái sông Vu Gia…


Dù  đã trở lại thăm những người đã cưu mang… nhắc nhở chính quyền các huyện Giằng, huyện Hiên, huyện Đại Lộc và các địa phương chú ý chăm lo đến đời sống của bà con gặp khó khăn, nhất là đồng bào miền Tây Quảng Nam - nơi “Trăm năm ta nhớ ơn làng/ Cánh tay che chở bước đường gian nguy”, song trước khi từ giã cõi đời,Tố Hữu vẫn chưa yên lòng: “Với tôi, dù có bao đóng góp, bao bài thơ, riêng món nợ làng Rô còn chưa trả nổi, chỉ riêng món nợ làng Rô mà thôi!”.