Thơ Olga Bergholtz (*), đôi điều gợi mở…

Giống như một giấc mơ đầy lãng mạn của thời niên thiếu, tôi đến với thơ Ônga Bécgôn trong những năm đầu sang học tập ở Liên bang Xô Viết, cũng hào hứng và say mê như khám phá sắc màu kỳ ảo của những đêm trắng Bắc Cực, vẻ đẹp trong trẻo tinh khôi của những lâu đài ngủ vùi trong tuyết, hay cả không gian vàng rực như lặng lẽ cháy lên trong tiết trời mùa thu xứ lạnh.

Nhưng toàn bộ ánh sáng những trang thơ ấy lại được sưởi ấm bằng một tình cảm rất gần với cách cảm nghĩ phương Đông, hồn hậu mà tinh tế, bao dung mà đầy trách nhiệm. Thêm nữa, sự bộc bạch nội tâm đầy cuốn hút và cách thể hiện giản dị mà hết sức chân thành của thơ Ô. Bécgôn cũng là một thế mạnh đủ sức gây ấn tượng, ngay khi người đọc bắt nhịp được vào với “điệu tâm hồn” đích thực của tác giả.


Nhà thơ Olga Bergholtz.

Trở lại việc lần đầu bắt gặp thơ Ônga Bécgôn, tôi gần như Ácsimet, kêu to “Eureka ” lên một tiếng thích thú và thử bắt tay vào dịch ngay một số bài mà tôi tâm đắc và cảm thấy có thể diễn đạt sang tiếng Việt một cách thật dễ dàng, suôn sẻ. Đó là lý do tại sao một số bài như Không đề (vốn là một đoạn trong bài Gửi Bôrix Coocnilốp), hay bài Mùa lá rụng, lại được dịch gần như phóng tác, hình thức dịch tung tẩy, phóng túng.

Về sau, khi tôi dịch một số nhà thơ khác như Tvarđôpxky, Eptushenkô… tôi cũng đúc rút kinh nghiệm từ các bản dịch này, và tìm cách hòa nhập mình vào nguyên tác, như một cách tiếp cận với cái mình đang cần, cái mình đang thiếu, để khao khát muốn truyền đạt sang tiếng Việt và văn học Việt một cách cảm, cách nghĩ phù hợp và có ích, làm giàu thêm cho thơ ca Việt.

Có lẽ vì thế mà một số bạn thơ quá yêu hay nói rằng “hình như tôi đã đem được một phần cái hồn thơ Nga vào thơ Việt hiện đại”. Thực ra thì ý nghĩ ban đầu của tôi giản đơn hơn thế, nó chỉ xuất phát từ chỗ tôi tiếc nuối rằng, cũng cùng nằm trong ý thức chung là đi theo khuynh hướng sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa của thời kỳ đó, mà chúng ta làm được ít hơn bạn, nghèo nàn và sơ lược hơn bạn, nên hãy cố tìm cách khắc phục, mở rộng và tiếp thu những gì bạn đã đi được xa hơn mình, có hồn cốt hơn mình, vậy thôi!

Từ tình yêu ban đầu đối với thơ Ônga Bécgôn, sau này, khi về nước, trong những lúc rỗi rãi ở trên vùng sơ tán thời chống Mỹ, cùng cơ quan Viện Luật học trên Hà Bắc, tôi lại giở lại thơ bà ra đọc và dịch tiếp những bài tâm đắc khác. Cứ thế mà hình thành dần một vệt thơ Ônga Bécgôn được dịch ra tiếng Việt, dù có rất nhiều bài chỉ lưu truyền qua chép tay, chưa hề được in ở đâu cả.

Ônga Bécgôn là một người sống rất khép kín và cô đơn. Bản thân tôi, dù dịch thơ Bécgôn đã khá lâu, và cũng có điều kiện sang nước Nga và ở nước Nga thường xuyên, nhưng tôi cũng chưa một lần nào gặp bà ở bất cứ đâu, dù tôi đến Hội Nhà văn Liên Xô nhiều lần, đến cả Chi hội Nhà văn Mátxcơva, Chi hội Nhà văn Lêningrad (nay là Xanh Pêtécbua) và cả nhiều tỉnh thành khác, từng gặp gỡ và nghe khá nhiều nhà thơ Liên Xô nổi tiếng đọc thơ, kể cả nhiều người cùng thế hệ của bà.

Hình như bà càng về cuối đời càng có phần sống khép kín, đồng thời cũng có nhiều mặc cảm khác nữa, nên ít chịu tiếp xúc với ai. Sau này, nghe nhiều câu chuyện về bà, và nghiên cứu kỹ tiểu sử của bà, tôi mới hiểu rõ thêm.

Ônga Bécgôn sinh ngày 16/5/1910, bố là bác sĩ, gốc Do Thái. Họ Bécgôn của ông cũng là dòng họ Đức. Những năm 1935-36, Ônga Bécgôn cũng cộng tác với một số tờ báo của Đoàn thanh niên Kômxômôn, viết truyện cho thiếu nhi. Năm 1938, chồng bà bị bắt và bị buộc tội là “kẻ thù của nhân dân”. Trước đó, ông có viết và in bài thơ dài Ngày cuối cùng trong cuộc đời Kirôp.

Chúng ta đều biết vụ ám sát Kirôp (Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành Ủy Lêningrad) là một vụ ám sát chính trị phức tạp trên chính trường Liên Xô ngày đó. Bài thơ của Bôrix Coocnilốp đã chạm nọc chính quyền, nên được vin vào nhiều lý do khác nhau, nhà thơ đã bị bắt. Năm 1938, ông được coi là đã chết ở Vịnh Phần Lan trước khi chiến tranh nổ ra, khi ông vừa mới qua tuổi 31 (B.Coocnilốp sinh năm 1907).

Tai họa tiếp tục ập đến với Ônga Bécgôn: Tháng 12/1938, do bị vu cáo vì sự liên lụy với chồng, bà cũng bị bắt và cũng lại tiếp tục bị khép vào tội là “kẻ thù của nhân dân”. Lúc đó, bà đang có mang. Mãi đến tháng 6/1939, khi không tìm được chứng cứ gì, bà được thả. Chồng chết, con cũng không còn, Ônga Bécgôn đã tiếp tục về lại thành phố Lêningrad, lúc đó sắp rơi vào đói khổ và kiệt quệ, vì bị quân đội phát xít bao vây suốt 900 ngày đêm không còn lối thoát!

Người phụ nữ xinh đẹp, có khuôn mặt và đôi mắt thẳm sâu như đọc lên được toàn bộ bi kịch của cuộc đời mình, không ai ngờ, đã đứng thẳng dậy trong chiến tranh, và đã làm nên một kỳ tích không ai làm nổi: Từ năm 1941, bà xin được vào làm ở Đài phát thanh Lêningrad, kiên trì làm quen với công tác nặng nề, mới mẻ và luôn là một phóng viên đi săn tin năng nổ, một biên tập viên cần cù, nhạy bén, thậm chí một phát thanh viên đóng thế vai hoàn hảo, khi cần.

Chiến tranh đã xảy ra. Công việc lu bù, bất kể ngày đêm. Trách nhiệm khi rà soát bài vở cao hơn, kỹ hơn, lại phải trực chiến ca kíp như người lính. Mặc tất cả, Ônga Bécgôn làm việc quần quật, lao như con thoi suốt ngày đêm, thậm chí còn làm việc lăn xả như một con thiêu thân, cũng để quên đi những nỗi khổ đau đang gánh chịu: Chưa kể đứa con đã chết trong bụng mẹ, hai đứa con gái nhỏ khác của Ônga cũng đều qua đời vì bệnh tật!

Một người bạn trai thân tình, cảm thương cho số phận của Ônga đã ngỏ lời với Ônga trong những tháng ngày khắc nghiệt ấy. Họ quyết định tạo dựng lại một gia đình nhỏ bé để có nhau trong lúc tối lửa tắt đèn. Ông là nhà nghiên cứu Văn học có triển vọng Nicôlai Môntsanôp. Tiếc thay, họ đã ở bên nhau không lâu: Nicôlai Môntsanôp cũng do làm việc quá lao lực, kiệt sức và bị cái đói quật ngã và cướp đi ngay trong năm thứ hai của cuộc chiến tranh chống phát xít!

Ônga Bécgôn lại còn lại một mình! Không biết bà đã lấy được nghị lực từ đâu để vừa hoàn thành các công việc ở Đài phát thanh, vừa hoàn thành các tập thơ Nhật ký tháng Hai (1942), Bản trường ca Lêningrad (1942).

Ônga Bécgôn đã tự khẳng định mình, đã dần tự nâng mình lên thành một nhà thơ mang biểu tượng của cuộc chiến đấu, biểu tượng của lòng kiên định chống phát xít, biểu tượng của cả thành phố Lêningrad anh hùng. Hàng ngày, người ta chờ bài viết của bà, chờ tiếng thơ của bà, chờ giọng nói của bà trên sóng.

Có lẽ suốt cả sau này nữa, chưa bao giờ, bà có được những giây phút thăng hoa đến như thế! Mà nỗi đau khổ và chịu đựng thì thật tột cùng! Chính trong những ngày đầy bi tráng ấy, bà đã viết nên những câu thơ được khắc vào đá hoa cương trắng trên bức tường tưởng niệm của nghĩa trang Piscarêvô sau chiến tranh: “Không thể có ai bị lãng quên. Không thể có một điều gì trôi đi mất!”.


Tranh của Nikolai Zhukov và Viktor Klimashin năm 1941:
“Hãy bảo vệ Moskva”.

Cũng sau chiến tranh, tập bài báo đã được phát trên Đài phát thanh của Ônga Bécgôn được xuất bản, lấy tên là Thành Lêningrad nói. Năm 1959, Ônga Bécgôn xuất bản tập bút ký hay nhất của mình là tập Những ngôi sao ban ngày, nói về vùng quê Trung Nga của tuổi thơ và số phận của những người cùng thời.

Trong thập kỷ 60, Ônga Bécgôn còn xuất bản thêm mấy tập thơ nữa: Thử thách, Ký ức và Trung thực. Cuối đời, bà sống độc thân, cách biệt mọi người và có nhiều suy ngẫm buồn rầu và đau đớn về kiếp người và số phận người trí thức trong xã hội. Không phải ngẫu nhiên, mà bà tránh tiếp xúc và ít xuất hiện ở bất cứ đâu trong các dịp gặp gỡ nơi công cộng. Bà mất ngày 13/11/1975 ở Lêningrad và được chôn cất ở nghĩa trang Vônkôvô.

Âm hưởng chủ đạo trong thơ Ônga Bécgôn là âm hưởng đặc trưng cho thơ ca của thế kỷ XX, nó gắn liền với tính công dân, với những bi kịch của số phận con người, luôn phải vượt qua những thử thách, tưởng chừng như không thể vượt qua nổi. Ưu điểm và có lẽ cả nhược điểm nữa, của thơ ca thế kỷ XX cũng là nằm trong phạm trù đó. Các nhà thơ lớn nhất của thế kỷ ấy đều đạt tới đỉnh cao trong sáng tác ở những tiêu điểm đó.


Phù điêu Olga Bergholtz ở Leningrad - Saint Peterburg.

Thế kỷ XXI đã có tâm trạng và cách nhìn khác xa rồi, dù chúng ta mới vượt qua chặng đường chưa quá một thập kỷ! Tuy nhiên, những giá trị thơ ca chân chính của thế kỷ trước vẫn khiến chúng ta khâm phục và trân trọng, thậm chí, vẫn khiến chúng ta luôn đồng cảm và chia sẻ. Có phải vì thế chăng, mà các bạn trẻ vẫn còn say sưa tìm kiếm đọc lại Ônga Bécgôn hôm nay?

Hồn Việt trân trọng giới thiệu một số bài thơ của Ônga Bécgôn.

KHÔNG ĐỀ

Ừ! Ngoái lại làm chi, chỉ để nhìn dĩ vãng,
Dải băng hà xưa

Và bóng tối ngày xưa!

Ở đó, có cái nhìn khát khao, chờ đợi,
Buộc em phải trả lời, mà không thể hững hờ!

Nhưng Anh ơi! Hôm nay, em bỗng quay đầu lại…
Bất chợt từ giá băng, Anh vời vợi nhìn lên!
Anh vẫn hệt như xưa, đôi mắt còn như sống,
Mãi mãi chẳng hề xa, người duy nhất của tình em!

Em đâu kịp hiểu ra, rằng tất cả vẫn linh ứng thế!
Khi nghĩ rằng cuộc sống khác xưa, hít thở khác xưa rồi!
Hỡi cực hình của em, niềm vui của em, khao khát của đời em,
Hóa ra, em vẫn chỉ sống được, trước Cái Nhìn của Con Người ấy!

Em biết mình thủy chung tới giờ, chỉ với Anh, duy nhất,
Và em có quyền công khai xác nhận một điều thôi:
Em vẫn là vợ Anh hôm nay, trước mọi người đang sống,
Chỉ riêng giữa chúng mình - em mới là góa bụa, đơn côi!…

1947

TRẢ LỜI
 

Tôi xin nói, các bạn ơi, với cuộc sống riêng tôi,
Không thể có những tháng năm trên đời vô ích,
Không thể có những thông tin vô nghĩa, không mục đích,
Không thể có những con đường đi qua, nghĩ lại, hóa không cần!
Không thể có những thế giới lạ xa, không thể không tiếp nhận,
Không thể có những tặng vật, bị hàm hồ cho đi một cách phân vân!
Cũng không thể có một tình yêu vô ích,
Kể cả những tình yêu bị dối lừa, đớn đau, bi kịch,
Thì chút ánh sáng trong veo, dẫu chỉ sáng chập chờn

Cũng suốt đời ở mãi cùng tôi!

Và có lẽ, chẳng bao giờ là quá muộn đâu,
Khi ta dám làm lại từ đầu trọn vẹn đời mình sống,
Dám bắt đầu lại từ đầu - một đường đi từ khởi thủy,
Và ứng xử làm sao, để nếu có quay nhìn quá khứ
Thì đừng phải ân hận xóa bỏ đi điều gì,

Dù là một tiếng kêu, hay chỉ một lời than!

1962

BẰNG VIỆT dịch

GỬI BÔRIX COÓCNILỐP (1)

… Và tất cả đổi thay rồi. Và em nay cũng khác
Em hát khác xưa rồi, khóc cũng khác xưa theo.

B. Coócnilốp

I

Em lại nhớ chuyện ngày quá khứ
Khúc hát ngây thơ một thời thiếu nữ:
“Ngôi sao cháy bùng trên sóng Nêva
Và tiếng chim kêu những buổi chiều tà…”

Năm tháng đắng cay hơn, năm tháng ngọt ngào hơn
Em mới hiểu, bây giờ anh có lý
Dù chuyện xong rồi,

Anh đã xa cách thế!

“Em hát khác xưa rồi, khóc cũng khác xưa theo…”

Lũ trẻ lớn lên, giờ lại tiếp theo ta
Lại nhắp lại vị ngọt ngào thuở trước
Vẫn sông Nêva, bóng chiều, sóng nước…
Nhưng nghĩ cho cùng, họ có lỗi đâu anh!

II

Vâng, em khác hẳn rồi, chẳng giống trước nữa đâu!
Cuộc đời ngắn cũng xem chừng sắp hết.
Em đã già nhiều, nhưng anh đâu có biết,
Hay anh cũng biết rồi? Có thể!… Nói đi anh!

Em xin lỗi làm chi, chẳng cần đâu anh nhỉ
Thề thốt chăng? Cũng vô ích thôi mà,
Nhưng ví thử em tin, anh còn quay trở lại
Thì một ngày nào, anh sẽ hiểu ra…

Và mọi tổn thương, chúng mình xóa hết
Chỉ ở bên nhau, sánh bước trọn đường
Chỉ cần được sóng đôi, và chỉ khóc
Chỉ khóc thôi, đủ bù đắp tận cùng!…

1939 – 1940


(*)

Ghi chú: Tên họ tác giả theo gốc Đức viết là Bergholtz. Tiếng Nga không có chữ H nên phiên âm là Berggoltz. Để tiện cho bạn đọc Việt Nam, chúng tôi phiên âm theo cách đọc đã quen là Bécgôn. (B.V)  

(1)

Bôrix Coócnilôp (1907 – 1938): Nhà thơ Nga, người yêu của Ônga Bécgôn, hi sinh ở mặt trận Phần Lan trước khi bắt đầu Đại chiến thứ II, nhưng mãi về sau Ônga mới được báo tin.