Thời sự và suy ngẫm (Tháng 10/2012)

* Chuyện biển Đông vẫn là chuyện quan trọng hàng đầu của nước ta. Ở cạnh một nước lớn như Trung Quốc, việc xử lý mối quan hệ chiến lược này là một bài toán không dễ.

Biển Đông vì sao mà dậy sóng? Nguyên nhân sâu xa thuộc về lịch sử, thuộc về quan niệm, tư duy. Hàng ngàn năm trước Công nguyên, người Trung Quốc đã có câu: “Tất cả đất dưới gầm trời này đều là đất của vua (vương thổ), tất cả con người dưới gầm trời này đều là bề tôi của vua (vương thần)”. Vua Trung Quốc là “thiên tử” (con trời), vua tứ Di (các nước chung quanh), nếu có, không sánh được với vua Trung Quốc (Hoa Hạ). Vì thế, các triều vua Trung Quốc liên tục đem quân đi “khai biên”, xâm chiếm các nước láng giềng. “Hán hoàng khai biên ý vị dĩ” (vua Hán (Đường) chưa thôi cái ý định “khai biên”) (thơ Đỗ Phủ). Cũng có khi họ bị các bộ tộc nhỏ hơn đánh chiếm kinh đô, và lập luôn triều đại để thống trị Trung Quốc (nhà Nguyên – Mông Cổ, nhà Thanh – Mãn Thanh). Nhưng trong máu mình, người Trung Quốc, dẫu là A.Q, vẫn có phép “thắng lợi tinh thần”, tự coi mình là thượng đẳng, tinh hoa.

Những thế kỷ trước, Trung Quốc suy yếu, bị phương Tây bắt nạt, thống trị…, “tư duy biển” chưa phát triển, họ chẳng ngó ngàng gì tới biển đảo (đất liền còn chưa giữ được, hải quân không phát triển, biển đảo làm gì!). Cho nên Trung Quốc chỉ giới hạn đất nước mình tới Quỳnh Châu (Hải Nam), bản đồ cũng chỉ vẽ đến đấy.

Biển Đông là thuộc An Nam, Hoàng Sa - Trường Sa là thuộc An Nam.

Nhưng từ đầu thế kỷ 20, cụ thể là năm 1909, đô đốc nhà Thanh Lý Chuẩn được phái đi tuần sát các đảo ở biển Đông. Tuần sát, nhòm ngó vậy thôi, chưa chiếm được, vì quan hệ Pháp – Thanh, lúc đó dầu sao Pháp mạnh hơn. Cho nên tàu Anh bị đắm ở Hoàng Sa, kêu cứu họ, họ không đi cứu, và trả lời thẳng thừng đó không phải là đất Trung Quốc. Sau chiến tranh thế giới lần thứ 2, Trung Quốc (Tưởng Giới Thạch) là một trong những nuớc đồng minh thắng trận, họ bèn chiếm Ba Bình (đảo lớn nhất trong quần đảo Trường Sa). Năm 1947, sai Lâm Tuân cỡi thuyền đi vẽ bản đồ (đường cắt khúc 11 đoạn, sau bỏ đi 2 đoạn trên vịnh Bắc Bộ Việt Nam, còn 9 khúc không ghi kinh độ, vĩ độ).

Công bố bản đồ đó, chính quyền Trung Hoa Dân Quốc bộc lộ tham vọng biển đảo, nhưng vẫn chỉ là tham vọng trên giấy, trên cuộc chiến bản đồ, chứ nào đã chiếm cứ, khai thác gì thực tế đâu (vẫn còn Pháp, và cả Mỹ và đồng minh đều không ủng hộ, ở hội nghị San Francisco 1951). Thế rồi đến 1958, Chu Ân Lai, Tổng lý Quốc Vụ Viện của Trung Quốc, ra tuyên bố về đường nội thủy 12 hải lý, tính từ bờ. Lúc đó quan hệ Mỹ – Trung cực kỳ căng thẳng ở eo biển Đài Loan (Trung Quốc bắn pháo ra Bành Hồ - Mã Tổ…). Thủ tướng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Phạm Văn Đồng gởi công hàm cho Chu Ân Lai ủng hộ quan điểm đó của Trung Quốc.

Phía Trung Quốc có nhiều người lấy cớ rằng, kèm theo Tuyên bố đó, Trung Quốc có bản đồ vẽ gộp Hoàng Sa, Trường Sa vào Trung Quốc, nên cho là Thủ tướng Phạm Văn Đồng thừa nhận Hoàng Sa, Trường Sa là của Trung Quốc! Sao lại có chuyện kỳ lạ vậy nhỉ?

pic

Hoàng Sa, Trường Sa lúc đó là của Việt Nam Cộng hòa (Nam Việt Nam) quản lý. Họ là một thực thể được nhiều nước, kể cả Liên Hiệp Quốc, thừa nhận về mặt chính trị, ngoại giao. Trung Quốc và Việt Nam đối đầu với họ, vì cùng trong “phe XHCN”, nhưng đâu có thể có chuyện Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thay mặt được họ để trao quyền chiếm đảo đó cho Trung Quốc? Đến 1976, sau khi giải phóng miền Nam, Chính phủ lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam là người quản lý Nam Việt Nam thay cho Việt Nam Cộng hòa đồng ý sáp nhập Nam Việt Nam vào Bắc Việt Nam (thống nhất đất nước), tất nhiên trong đó có các biển đảo (gồm cả Hoàng Sa, Trường Sa, Phú Quốc, Côn Đảo…). Chính phủ CHXHCN Việt Nam đương nhiên trở thành người chủ chính thức, người thừa kế hợp pháp các đảo này, có đủ thẩm quyền nói chuyện về sự tranh chấp (nếu có) với các nước.

Vào năm 1958, chưa có chuyện đó. Công hàm Phạm Văn Đồng ủng hộ Tuyên bố Chu Ân Lai (trên lời lẽ Công hàm không hề có điều khoản nào nói đến Hoàng Sa, Trường Sa cả); Trung Quốc muốn mập mờ thì tùy, nhưng đứng về Công pháp quốc tế, nó chẳng có giá trị gì. Vả lại, thêm một điều, nếu muốn nhượng quyền lãnh thổ, đâu chỉ thể hiện trong một Công hàm ngắn ngủi của Thủ tướng! Nó phải là việc của toàn dân, của toàn bộ Nhà nước ở cấp cao nhất). Những “mảnh vụn lịch sử” đó, bao gồm cả cái bản đồ 9 đoạn mà những thức giả ở Trung Quốc hiện giờ đều thấy “phi lý”, “buồn nôn” (để mượn lại 2 thuật ngữ của chủ nghĩa hiện sinh), thì sao có thể gọi là “bằng chứng lịch sử” được!

Trung Quốc coi là mình có “lợi ích cốt lõi” ở biển Đông. Thế thì Mỹ, Nhật, Nga, Ấn, ASEAN… và nước nào vận chuyển hàng qua biển Đông đều có thể tuyên bố là mình có “lợi ích cốt lõi”. Nhưng chiếm đảo, chiếm biển, xua tàu đi khai thác, chuyển dàn khoan đi khai mỏ, lập khu vực hành chính, triển khai quân sự…, gây căng thẳng trên biển, thì đó là đi ngược lại Công ước Luật biển 1982 mà Trung Quốc đã ký, là đi ngược lại xu thế hòa bình, ổn định, hợp tác, phát triển của cả khu vực và thế giới; đi ngược lại thỏa thuận DOC và xu thế tiến tới COC của ASEAN và Trung Quốc.

Vào thời điểm hiện tại, biển Đông có vẻ im ắng hơn. Việc tranh chấp đảo Senkaku (mà Trung Quốc gọi là Điếu Ngư, trên biển Hoa Đông) giữa Nhật và Trung Quốc đang làm cho quan hệ Trung – Nhật căng thẳng hơn bao giờ hết. Sau khi chính phủ Nhật tuyên bố mua lại đảo này từ tay tư nhân và kiên quyết thực hiện chiếm đảo, bảo vệ đảo, Trung Quốc sôi sục biểu tình phản đối, thậm chí có hành động kỳ thị, xé cờ Nhật, uy hiếp công dân Nhật, xe Nhật, sứ quán Nhật…, rồi điều cả tàu chiến tập trận bắn đạn thật ven đảo. Nhật cũng phản ứng lại kiên quyết, điều tàu ra đảo chống lại các tàu Trung Quốc.

Chiến tranh về đảo này giữa hai bên chắc là không thể xảy ra. Trung Quốc sẽ họp Đại hội Đảng Cộng sản vào tháng sau. Và hai bên là đối tác kinh tế quan trọng của nhau. Họ sẽ phải tìm lối thoát qua ngoại giao thôi.

pic

Biển Đông của ta, qua các diễn biến mới nhất: ASEAN sau trục trặc ở Phnom Penh đã ra được Tuyên bố chung 6 điểm, hoạt động tích cực của Ngoại trưởng Indonesia, cuộc gặp giữa Chủ tịch nước Trương Tấn Sang và Tổng bí thư - Chủ tịch nước Trung Hoa Hồ Cẩm Đào bên lề APEC, cuộc gặp giữa Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Phó Chủ tịch nước Tập Cận Bình (người chắc chắn sẽ đảm nhiệm Tổng Bí thư vào tháng tới, trong Đại hội Đảng Cộng sản Trung Quốc lần thứ 18), tái khẳng định lại việc giải quyết hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế vấn đề biển Đông. Mong rằng những Tuyên bố đó sẽ được thực thi với sự nhất trí trên – dưới, quốc phòng – ngoại giao, tuyên truyền ở phía Trung Quốc; cũng mong rằng hòa bình, ổn định ở biển Đông và toàn khu vực sẽ được giữ vững, ASEAN và Trung Quốc sẽ tiến tới Bộ quy tắc về ứng xử trên biển Đông COC trong thời gian tới (không đợi sự “chín muồi” như Trung Quốc nói; có báo trên thế giới bình luận là Trung Quốc đang “câu giờ”).

Cuộc thăm của Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng đến đảo quốc Singapore, một nước công nghiệp hiện đại ở Đông Nam Á, nâng tầm quan hệ Việt Nam – Singapore lên tầm chiến lược, củng cố sâu sắc hơn nữa mối quan hệ của gia đình ASEAN, thúc đẩy COC… là một cột mốc vô cùng quan trọng trong quan hệ đối ngoại của Việt Nam với các nước ASEAN anh em…

Đáng chú ý là chuyến thăm của đoàn quân sự Trung Quốc do Thượng tướng Mã Hiểu Thiên đến Hà Nội; đối thoại với đoàn Việt Nam do Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh dẫn đầu, đã làm cho tình hình quan hệ, tình hình quân sự giữa hai nước nhất thời hạ nhiệt. Nếu Trung Quốc cũng nhận thức rằng hòa bình, ổn định, phát triển của Trung Quốc – Việt Nam – ASEAN, của châu Á - Thái Bình Dương…, của biển Đông… là vô cùng hệ trọng, là vàng ngọc trong thế kỷ này đối với các bên, đối với toàn thế giới, đi vào đàm phán thực chất trên cơ sở luật pháp quốc tế để giải quyết bất đồng… thì chắc chắn Trung Quốc sẽ là nước có lợi nhất. Quan hệ kinh tế, thương mại, văn hóa của Trung Quốc với tất cả các nước sẽ thông thuận và giúp cho Trung Quốc tiến bước. Không cần phải tranh chấp, đe dọa chiến tranh. Vấn đề “khát” năng lượng của kinh tế Trung Quốc phải giải quyết trên bình diện khác, còn các tham vọng khác là không dễ.

Trong việc này, cần lưu ý đến thái độ của Hoa Kỳ, một bên cực kỳ quan trọng trong tất cả các mối quan hệ. Hoa Kỳ tuyên bố quay trở lại châu Á - Thái Bình Dương vì vị trí kinh tế quan trọng của nó, và tăng cường sự có mặt của mình về quân sự, chính trị, kinh tế… Bà Hillary Clinton, Ngoại trưởng Mỹ, lần đầu tiên đi thăm các đảo quốc nhỏ bé ở Thái Bình Dương, nơi mà Trung Quốc đã tranh thủ có mặt từ lâu. Sau đó bà đến Jakarta, Bắc Kinh… Ở đó bà tuyên bố lập trường đã được nhắc đến nhiều lần là Trung Quốc và các nước có tranh chấp biển Đông cần giải quyết vấn đề trên cơ sở đàm phán ngoại giao, giữ gìn hòa bình, không dùng vũ lực hoặc đe dọa vũ lực, tiến tới COC bằng một ASEAN đoàn kết (tầm quan trọng của sự đoàn kết này – như một bó đũa không thể bẻ gẫy từng chiếc là điều ai cũng nhận thức được)…

Những lời lẽ phải nói là “lời nghiêm lẽ chính” đó của bà Ngoại trưởng Hoa Kỳ làm cho báo chí Trung Quốc phật lòng. Họ cho là Hoa Kỳ can thiệp vào việc riêng của Trung Quốc và các nước. Nhưng ơ hay, toàn cầu bây giờ là một thế giới liên lập, Hoa Kỳ cũng như Trung Quốc là những nước lớn có trách nhiệm, và có cả quyền lợi, lẽ đâu họ lại đứng ngoài? Chỉ có điều là thái độ có đúng đắn, có thiện chí hay không mà thôi. Người Việt Nam chúng tôi đã chống xâm lược Mỹ kiên quyết bao nhiêu, chúng tôi đã được thử thách trong muôn ngàn quan hệ đối ngoại phức tạp, nhưng chuyện nào ra chuyện nấy: giờ đây Mỹ cũng đã là bạn, là đối tác kinh tế, chính trị, quân sự… và “nói phải củ cải cũng nghe”. Đó là tục ngữ Việt Nam.

Việt Nam chẳng nghiêng về bên nào, chẳng “theo” bên nào, Việt Nam chỉ theo Việt Nam, nhưng sự tình là như thế! Từng có ai đó nói rằng Việt Nam bây giờ “theo Mỹ chống Trung Quốc”. Trung Quốc – Việt Nam núi liền núi, sông liền sông, láng giềng anh em “tối lửa tắt đèn có nhau”, máu đã đổ cho nơi này cũng là đổ cho nơi khác, quan hệ như thế làm sao thay đổi được. Vả lại, người Việt Nam sống nghĩa nặng tình sâu với nhân dân Trung Quốc, đất nước Trung Quốc, văn hóa Trung Quốc… Dù nhất thời có vấn đề, chỉ cần lãnh đạo Trung Quốc điều chỉnh chính sách, chân thành thực hiện chiến lược, sách lược hòa bình, cùng làm ăn cùng thắng lợi, thì lập tức quan hệ hai nước sẽ trong veo!

pic

Dù sao, đây là một quá trình gian nan, lâu dài, gập ghềnh…, cần thời gian, nhưng nhất là cần thiện chí, cần công bằng, lẽ phải. Chúng ta theo dõi Đại hội Đảng Cộng sản Trung Quốc kỳ tới và hy vọng tiếng nói lành mạnh, phù hợp chân lý thực tế, chứ không phải chân lý trong “giấc mơ Trung Hoa”, tranh bá đồ vương toàn cầu của một số phần tử dân tộc hiếu chiến cực đoan, luôn xuyên tạc và kích động. Họ chỉ làm hại cho đất nước họ. Thái độ của họ làm cho Trung Quốc bị “không ưa” trên toàn thế giới (ở Đức, theo một số liệu điều tra, có tới 71%). Ở Mỹ, ở Ấn, ở Nhật cũng là như thế và hơn thế. Và ngay cả ở Nga, nước đang xây dựng quan hệ đối tác với Trung Quốc, dư luận Nga vẫn “gờm” Trung Quốc (vì đã có cuộc chiến 1962), và sự xâm nhập của người Trung Quốc vào Nga, vào Sibir không phải không gây lo ngại… Chẳng lẽ Trung Quốc muốn sống một mình, vì mình lớn quá, vì mình là cả thế giới! Chúng tôi ngờ rằng không được đâu!

* Các báo đưa tin: Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng phát biểu tại Ủy ban Thường vụ Quốc hội nhân bàn về sửa đổi Luật đất đai, Luật chống tham nhũng: “Tình hình khiếu nại, tố cáo của nông dân đến nay là rất nghiêm trọng khi có tới 70% tổng số các vụ việc khiếu nại, tố cáo về lĩnh vực này. Nghiêm trọng hơn nữa là khi các quyết định hành chính của nhà nước sai mất một nửa. Với những quyết định đúng mà dân vẫn kiện, chứng tỏ là một phần do chính sách pháp luật chưa hợp lý”.

Các Phó chủ tịch Quốc hội và các Ủy viên Thường vụ Quốc hội, trong phát biểu của mình, cũng thấy rất cụ thể và phân tích rất cụ thể tình trạng đất đai, tham nhũng. Đó là một điều đáng mừng và nó cho ta hy vọng tình hình này sẽ được cải thiện sắp tới chăng? Dù sao người ta vẫn thấy là ở những cấp chiến lược, cấp quốc gia… như thế này, mà đến bây giờ, sau hàng chục năm, mới nhận ra tình hình là “rất nghiêm trọng” thì có hơi quá chậm!

Cái trì trệ, quan liêu, rối việc, việc lớn có tính chất tồn – vong chưa được quan tâm và giải quyết kịp thời, để đến lúc “đến chân tường”, e khá muộn và thiệt hại tổn thương khôn xiết kể! Một chính quyền gọi là “của dân, do dân, vì dân”, một chính quyền kế nghiệp Cụ Hồ, mà để đến nỗi thế, thì đáng tiếc, đáng lo thay!

* Trung ương sắp họp Hội nghị để “quyết” về vấn đề giáo dục, khoa học. Vấn đề này báo chí nói đã nhiều, bây giờ nói lại thì bà con nghe nhàm tai, nên chỉ xin nói vài câu đơn giản.

Muốn làm tốt giáo dục – khoa học, phải có ít nhất ba điều: một là tiền của, hai là con người, ba là quyết sách. Hình như cả ba ta đều thiếu.

Tiền, thì chi khoảng 25% ngân sách cho giáo dục. Nhưng nước ta, ngân sách ít, nên số tiền đó chi cho 1 triệu giáo viên, 22 triệu học sinh, sinh viên và các khoản cơ sở vật chất khác, cũng còn thiếu nhiều (mức chi 25% là cao, bằng vào các nước phát triển).

Người, thì ta thiếu và yếu. Đã thế, lại làm vội, làm thiếu chất lượng, nên từ một cái dốt, cái yếu nó nhân lên ở cấp số nhân! Thầy đã kém (số đó đông hơn số giỏi), lại làm vội, làm ẩu, “học đại, dạy đại”… thì người được đào tạo yếu, khó dùng, không dùng được, không đạt chuẩn mực nào, phải đào tạo lại, là lẽ thường. Thạc sĩ, tiến sĩ… đào tạo nhiều đấy, nhưng người giỏi, người yêu nghề, tâm huyết… còn hiếm. Bây giờ nếu giáo sư…, học theo các đại học Âu Mỹ, để cho các trường tự phong (ôi chao, một tổ bộ môn của đại học người ta đã có số giáo sư, tiến sĩ hơn hoặc bằng số giáo sư, tiến sĩ ở một đại học ta, chất lượng chưa nói!)… Học theo như thế mà bảo là tạo điều kiện cho phát triển, thì đó là cách học máy móc, sao chép bất chấp thực tế (đại học người ta có truyền thống 4-5 thế kỷ, nước lại giàu, thu hút hết nhân tài thiên hạ!). Và sẽ lạm phát giáo sư, tiến sĩ, chưa cần kể thạc sĩ. Và kéo đại học xuống vực, sa lầy, hàng trăm năm chưa chắc gì đã kéo lên được!

pic

Về cấp học phổ thông thì chưa đến nỗi nào, nhưng cần thay đổi cách tư duy, cách học, bỏ cách học nhồi sọ, nhồi nhét, làm hại con người.

Về triết lý giáo dục, có người đề nghị bỏ tính chất xã hội chủ nghĩa, để “tự do”, để con người không bị ràng buộc về tư duy; hoặc có vị còn đề ra “dạy cho con người biết phản kháng”!

Thiết nghĩ, cứ làm theo lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về giáo dục, học trước hết để làm người. Người yêu nước, yêu dân, cần kiệm liêm chính… có đạo đức, có tài năng để phục vụ đất nước. Thế là được, thế mà làm cho được còn khó, cần gì phải cao xa, viển vông. Nhất thiết phải học nước người, nhưng phải biết là nước ta còn khác người ta nhiều mặt, về trình độ kinh tế, xã hội, văn hóa...

Cái lo là hiện nay giáo dục, khoa học không sản sinh ra nhân tài như thời trước, thời giáo dục phong kiến – thực dân… và cả thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tại sao? Hay là nhân tài vẫn có, có nhiều, nhưng cách dùng nhân tài lỗi thời, hình thức, đủ sức “dìm” nhân tài từ đầu.

Về cấp quyết sách giáo dục – khoa học thì sự quan tâm, can dự, chỉ đạo… là chưa kịp thời, chưa đủ… so với tầm quan trọng chiến lược quyết định hiện tại và tương lai của dân tộc. Chỉ mải lo chỉ tiêu kinh tế và các việc khác, giáo dục – khoa học dễ bị bỏ qua vì “chưa chết ai”! Chỉ nghị quyết thôi chưa đủ, vấn đề là thực hành nghị quyết và kiểm tra nghiêm ngặt việc thực hành.

Tổ chức – cán bộ trong giáo dục cũng là vấn đề mà mọi người quan tâm. Có kiến nghị (trong kiến nghị về giáo dục của Đại tướng Võ Nguyên Giáp chẳng hạn) đã đề nghị phải rất thận trọng trong việc bổ nhiệm Hiệu trưởng Đại học, Bộ trưởng Giáo dục (và phải thay khoảng 50% cán bộ!). Không biết đúng đến đâu, nhưng nhân tài quản lý giáo dục, theo cách chọn lựa còn cũ kỹ, hình thức của ta rõ ràng chưa đáp ứng yêu cầu.