Thông điệp từ Việt Nam

Trong buổi hội đàm với Tổng thống Barack Obama tại Washington, D.C. ngày 25-7-2013, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã tặng ông chủ Nhà Trắng bản sao bức thư đề ngày 16-2-1946 của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi Tổng thống Harry S. Truman, trong đó vị lãnh tụ của nhân dân Việt Nam khẳng định: “mục tiêu của chúng tôi là độc lập hoàn toàn và hợp tác toàn diện với Hoa Kỳ” (our goal is full independence and full cooperation with the United States)(1).

Hồi tưởng lại 7 thập niên trước, trong những năm chiến tranh châu Á - Thái Bình Dương (1941- 1945), Tổng thống Hoa Kỳ Franklin D. Roosevelt vừa chống Nhật vừa hứa ngăn cản Pháp trở lại Đông Dương sau khi chiến tranh kết thúc. Chủ trương đó của Mỹ phù hợp với đường lối “đánh Pháp đuổi Nhật” của Việt Nam. Do đó, theo nhà sử học Mỹ William J. Duiker, “Hồ Chí Minh gửi nhiều thông điệp đến Tổng thống Roosevelt”(2).

Hồ Chí Minh đã đến Côn Minh (Trung Quốc) gặp tướng Claire L. Chennault, Tư lệnh Không đoàn số 14 ở Hoa Nam, làm việc với đại tá Paul Helliwell và thiếu tá Archimedes Patti của OSS(3), với trung úy Charles Fenn của AGAS(4) và nhiều viên chức Hoa Kỳ khác. Ông đồng ý tổ chức một mạng lưới tình báo để cung cấp cho Hoa Kỳ những thông tin về các doanh trại và hoạt động của quân Nhật ở Đông Dương, cứu giúp các phi công Hoa Kỳ bị Nhật bắn rơi trên lãnh thổ Đông Dương. Theo báo Time,“các du kích quân của ông đã cứu thoát 17 phi công Hoa Kỳ bị [Nhật] bắn hạ”(5). Đổi lại, phía Hoa Kỳ cung cấp cho bộ đội Việt Minh một số vũ khí, máy truyền tin, máy phát điện, thuốc men…

Ngày 2-9-1945, trước hàng trăm ngàn người tụ tập tại vườn hoa Ba Đình (Hà Nội), ông mở đầu bản Tuyên ngôn Độc lập của Việt Nam bằng câu trích dẫn từ bản Tuyên ngôn Độc lập ngày 4-7-1776 của Hoa Kỳ.
Nhưng, như nhà báo Harold Isaacs nhận xét, “nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mới ra đời, trong tay hầu như không có gì cả [nhưng] phải đối đầu với nhiều thế lực thù địch và mạnh hơn rất nhiều”(6).
Trước hết, phải kể đến tham vọng của Pháp muốn chiếm lại Đông Dương để tái lập ách thống trị thực dân. Nghe tin Nhật đầu hàng, thiếu tướng de Gaulle, Chủ tịch Chính phủ lâm thời Cộng hòa Pháp, ngay lập tức cử đô đốc d’Argenlieu và tướng Leclerc sang Sài Gòn làm cao ủy và tổng chỉ huy quân viễn chinh tại Đông Dương.

Anh và Trung Hoa Dân quốc được Hội nghị Potsdam cho đưa quân vào phía nam và phía bắc vĩ tuyến 16 để giải giới và hồi hương quân Nhật.

Hội đàm giữa Chủ tịch nước Trương Tấn Sang và Tổng thống Mỹ Barack Obama

Anh chủ trương phục hồi nguyên trạng như trước chiến tranh (thuộc địa của nước nào trả lại cho nước ấy) nên tích cực giúp Pháp chiếm lại Đông Dương (đổi lại, Paris thừa nhận “chủ quyền” của London đối với các thuộc địa cũ của Anh ở châu Á).

Còn Trung Hoa Dân quốc đưa một số nhà hoạt động chính trị - từng sống lưu vong trong sự đùm bọc của họ trong thời kỳ chiến tranh - về Hà Nội với ý đồ “thành lập ở Việt Nam một quốc gia “độc lập” nhưng trong thực tế đó là một nước chư hầu của Trung Hoa”(7).

Trong bối cảnh đó, Hoa Kỳ là cường quốc duy nhất trên thế giới có thể giúp Việt Nam ngăn chặn bàn tay xâm lược của Pháp. Trong bữa cơm tiễn Archimedes L.A. Patti về nước tổ chức tại Bắc Bộ Phủ tối 30-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh “bày tỏ hy vọng Hoa Kỳ sẽ kiềm chế ý đồ thực dân của Pháp. Ông nói rằng nếu Hoa Kỳ chỉ cần dùng ảnh hưởng của mình đối với de Gaulle thì cũng có thể đạt được một thỏa hiệp tạm thời ở Việt Nam mà trong đó không chỉ riêng Pháp mà tất cả các nước bạn bè đều có lợi từ nền độc lập của Việt Nam”(8).

Thay mặt Chính phủ và nhân dân Việt Nam, ông gửi một loạt thư và điện đến tổng thống và ngoại trưởng Hoa Kỳ, kêu gọi sự giúp đỡ của Hoa Kỳ. Trong các thư và điện nói trên, Hồ Chí Minh đặt niềm tin và hy vọng ở người Mỹ mà ông gọi là “những người bảo vệ và chiến đấu cho công lý thế giới” (guardians and champions of World Justice)(9).

Trong thư ngày 22-10 gửi Ngoại trưởng Hoa Kỳ, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh : “Cuộc đấu tranh liên tục [của nhân dân Việt Nam] chống lại người Nhật đã đem lại sự phục hồi nền độc lập dân tộc, vì vậy, nền độc lập hoàn toàn của Việt Nam phải được Liên hợp quốc công nhận”. Trước việc Pháp bắt đầu “cuộc tiến công xâm lược” từ rạng sáng 23-9, Hồ Chí Minh đề nghị “một ủy ban điều tra phải được cử tới Nam Việt Nam”(10).

Nhân Ngày Hải quân (27-10-1945), Tổng thống Truman đọc bài diễn văn tại Công viên Trung tâm ở New York, xác định chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ gồm 12 điểm trong đó có các điểm sau:

“2. Chúng tôi tin tưởng rằng chủ quyền và quyền tự trị của tất cả những dân tộc bị tước đoạt bằng bạo lực sẽ được trả lại cho họ.

3. Chúng tôi sẽ không chấp nhận những thay đổi về lãnh thổ trong bất kỳ bộ phận nào của thế giới, trừ phi những thay đổi ấy phù hợp với nguyện vọng được tự do phát biểu của dân tộc có liên quan.

4. Chúng tôi tin rằng mọi dân tộc đang chuẩn bị để tự trị phải được phép chọn lựa chính thể của riêng họ bằng sự chọn lựa được chính họ tự do phát biểu, không có sự can thiệp của bất cứ nguồn gốc bên ngoài nào. Điều đó đúng ở châu Âu, ở châu Á, ở châu Phi cũng như ở Tây bán cầu (…)

6. Chúng tôi sẽ từ chối công nhận bất cứ chính quyền nào bị áp đặt cho một dân tộc bởi bạo lực của một thế lực nước ngoài. Trong một vài trường hợp, không thể ngăn cản sự áp đặt một chính quyền bằng bạo lực. Nhưng Hoa Kỳ sẽ không công nhận một chính quyền như thế”(11) v.v…

Nếu chính sách ấy được thực hiện một cách nghiêm túc thì sẽ có lợi cho công cuộc bảo vệ độc lập tự do của Việt Nam. Vì vậy, chỉ một tuần lễ sau, trên báo Cứu Quốc (cơ quan của Tổng bộ Việt Minh), Hồ Chí Minh viết: “Nhân dân Việt Nam… rất hoan nghênh… 12 điểm chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ”, nhất là “năm điểm có quan hệ mật thiết với các dân tộc nhược tiểu trên thế giới”. Sau khi nhắc lại việc Pháp đang dùng “võ lực để mưu lập lại cái chế độ nô lệ của họ trên đất Việt Nam”, Hồ Chí Minh tin “chắc rằng Hoa Kỳ sẽ làm cho những lời tuyên bố ấy [được] thực hiện ngay”(12).

Trong một bức điện gửi Ngoại trưởng Hoa Kỳ, Hồ Chí Minh ca ngợi “ý tưởng cao quý về lòng khoan dung và nhân đạo thể hiện trong diễn văn của tổng thống Mỹ, bày tỏ niềm hy vọng chân thành rằng tất cả các dân tộc tự do trên thế giới… sẽ công nhận nền độc lập của nước Cộng hòa [dân chủ] Việt Nam và đặt dấu chấm hết cho cuộc xung đột giết chóc ở Nam Việt Nam”(13).

Trong thư đề ngày 18-1-1946 gửi Truman, Hồ Chí Minh một lần nữa “nhiệt liệt hoan nghênh diễn văn ngày 28-10-1945 của Truman trong đó tổng thống Hoa Kỳ đề ra những nguyên tắc tự quyết và bình đẳng về địa vị mà các Hiến chương Đại Tây Dương và San Francisco đã xác nhận… Nhân danh nhân dân và Chính phủ Việt Nam, ông yêu cầu Truman can thiệp để có ngay một giải pháp cho vấn đề Việt Nam. Ông viết: nhân dân Việt Nam tha thiết hy vọng rằng nước Cộng hòa Hoa Kỳ vĩ đại sẽ giúp họ đạt được độc lập hoàn toàn và ủng hộ họ trong công cuộc tái thiết”(14).

Ngày 16-2, Hồ Chí Minh nhờ nhà ngoại giao Hoa Kỳ Kenneth Landon (đang có mặt tại Hà Nội) chuyển cho Truman một bức thư, tố cáo “thực dân Pháp… đang tiến hành một cuộc chiến tranh tàn sát và không thương xót đối với chúng tôi hòng lập lại ách thống trị của họ”. Khẳng định “sự xâm lược này là một thách thức đối với thái độ đáng kính trọng mà Chính phủ và nhân dân Hoa Kỳ đã bày tỏ trước, trong và sau chiến tranh. Nó đối chọi với lập trường vững chắc mà Ngài đã nêu lên trong bản tuyên bố 12 điểm và với tính cao thượng và khoan dung lý tưởng mà phái đoàn của Ngài… đã bày tỏ trước Đại hội đồng Liên hiệp quốc”, Hồ Chí Minh yêu cầu Hoa Kỳ “thực hiện một bước quyết định ủng hộ nền độc lập của chúng tôi”(15).

Ngày 18-2, trong công hàm gửi Chính phủ Hoa Kỳ và chính phủ các cường quốc khác (Liên Xô, Trung Hoa và Anh), Hồ Chí Minh đề nghị các nước “thực hiện tất cả những bước đi thích hợp để, bằng sự can thiệp khẩn cấp, ngăn chặn cuộc đổ máu đang diễn ra ở Nam Việt Nam, đi tới một giải pháp cấp bách và hợp lý cho vấn đề Đông Dương” và “đưa vấn đề Đông Dương ra trước tổ chức Liên hiệp quốc” (16).

Ngày 28-2, đúng vào lúc Chính phủ Trùng Khánh bất chấp chủ quyền của Việt Nam, ký hiệp ước cho phép quân Pháp vào phía bắc vĩ tuyến 16 thay chân quân Trung Hoa, Hồ Chí Minh gửi cho Truman một bức điện “tha thiết kêu gọi cá nhân Ngài và nhân dân Hoa Kỳ khẩn trương can thiệp nhằm ủng hộ nền độc lập của chúng tôi”(17).

Nhưng Chính phủ Hoa Kỳ đã thay đổi chính sách đối với Đông Dương. Họ khước từ khát vọng độc lập và tự do của nhân dân Việt Nam. Ngược lại, họ thỏa mãn tham vọng thực dân của Pháp. Từ tháng 4-1945, “chính quyền Truman tuyên bố rõ ràng rằng Hoa Kỳ công nhận chủ quyền của Pháp ở Đông Dương và các viên chức cao cấp phụ trách chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ không phản đối sự phục hồi quyền lực của Pháp”(18). Lý do được nguyên Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Robert S. McNamara giải thích: “Hoa Kỳ ngầm bằng lòng cho Pháp quay trở lại Đông Dương vì sợ rằng một sự rạn nứt [trong quan hệ] Hoa Kỳ – Pháp sẽ khiến cho việc ngăn chặn sự bành trướng của Liên Xô ở châu Âu trở nên khó khăn hơn”(19).

Vì vậy Truman và các ngoại trưởng của ông không trả lời những thông điệp của Hồ Chí Minh.

Ngày 24-8 (tức ngày 25-8 tính theo giờ Việt Nam), đúng vào lúc ở Sài Gòn hàng trăm ngàn người đang xuống đường trong cao trào tổng khởi nghĩa giành chính quyền, thì ở Nhà Trắng Truman tiếp tướng de Gaulle và cam kết với người đứng đầu chính phủ Pháp: “Trong mọi trường hợp, đối với Đông Dương, chính phủ tôi không chống lại việc chính quyền và quân đội Pháp quay trở lại xứ ấy”(20).

Ngày 2-9, trong khi nhân dân Việt Nam từ Bắc chí Nam hân hoan cử hành lễ Độc lập, tướng Douglas MacArthur và tướng Leclerc thay mặt hai chính phủ Hoa Kỳ và Pháp dự lễ ký văn kiện đầu hàng của Nhật trên chiến hạm Missouri đậu trong vịnh Tokyo (Nhật Bản). MacArthur khuyên Leclerc: “Anh hãy mang quân sang [Việt Nam], mang thêm nhiều hơn nữa, có khả năng bao nhiêu thì mang nhiều bấy nhiêu”(21).

Được Hoa Kỳ ủng hộ, được Anh giúp đỡ, ba tuần lễ sau, vào lúc mờ sáng ngày 23-9, quân Pháp nổ súng vào trụ sở Ủy ban nhân dân Nam Bộ và một số công sở khác ở Sài Gòn, mở đầu cuộc chiến tranh tái chiếm Đông Dương làm thuộc địa.

Hoa Kỳ không chỉ ủng hộ bằng lời nói suông. Họ cung cấp đôla và súng đạn cho Pháp. McNamara thừa nhận: “Trong thực tế, trong thập niên sau đó, chúng ta đã tài trợ hoạt động quân sự của Pháp chống lại lực lượng của Hồ Chí Minh”(22) đến độ Tiến sĩ Daniel Ellsberg kết luận: chiến tranh Việt Nam trong suốt 30 năm (1945-1975) “đã là một cuộc chiến tranh của Mỹ hầu như ngay từ khi bắt đầu: trước hết là chiến tranh Pháp - Mỹ, cuối cùng là chiến tranh hoàn toàn Mỹ”(23).

Niềm hy vọng mà Hồ Chí Minh đặt ở “những người bảo vệ và chiến đấu cho công lý thế giới” không được đáp ứng. Ông tâm sự với nhà báo Harold Isaacs: “Chúng tôi tiếc rằng Hoa Kỳ đã tiếp tế khí giới cho Pháp giết hại người chúng tôi, phá phách xứ sở chúng tôi”(24) .

Ngày nay, với độ lùi của thời gian, chúng ta có thể khẳng định rằng, nếu lúc đó, Tổng thống Truman đáp ứng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngăn chặn tham vọng xâm lược của Pháp, thì ngọn lửa chiến tranh Việt - Pháp đã bị dập tắt ngay từ cuối năm 1945 và cuộc chiến tranh Việt - Hoa Kỳ 9 năm sau đó (vốn được xem như sự nối dài của chiến tranh Việt - Pháp) đã không xảy ra. Hàng triệu người Việt Nam, người Pháp, người Hoa Kỳ… đã được thoát chết. Mặt khác, nếu ngày ấy, phía Hoa Kỳ nắm lấy bàn tay mà phía Việt Nam đã đưa ra, thì quan hệ hữu nghị và hợp tác toàn diện giữa hai dân tộc đã được xác lập cách nay 7 thập kỷ rồi.

Do đó, món quà của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang chuyển tải một thông điệp đầy ý nghĩa: hai nước cần hiểu biết nhau, tôn trọng nhau, không vì bất cứ lý do nào làm tổn hại lợi ích cơ bản (như độc lập tự do) của đối tác.

Triển vọng của quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ sẽ xán lạn nếu ngay từ bây giờ chúng ta biết rút ra bài học từ quá khứ.

 

_______

(1) Bộ Quốc phòng Mỹ, United States - Vietnam Relations 1945-1967, U.S. Government Printing Office, Washington, D.C., 1971, tập I, tr.C-96.

(2) William J. Duiker, US Containment Policy and the Conflict in Indochina, Stanford University Press xuất bản, California, 1994, tr.22, 23.

(3) OSS (Office of Strategic Services): Cơ quan tình báo chiến lược của Hoa Kỳ, tiền thân của tổ chức CIA ngày nay.

(4) AGAS (Air Ground Aid Services): Tổ chức cứu giúp trên mặt đất của Không quân.

(5) Báo Time số ra ngày 12-9-1969.

(6) Harold Isaacs, No Peace for Asia, NXB Doubleday, New York, 1947, tr.175.

(7) Philippe Devillers, Histoire du Vietnam de 1940 à 1952, NXB Seuil, Paris, 1952, tr.109.

(8) Archimedes L.A. Patti, Why Vietnam?, University of California Press xuất bản, 1980, tr.368.

(9) Bộ Quốc phòng Mỹ, United States – Vietnam Relations 1945-1967, sđd, tập I, tr.C-96.

(10) Hồ Chí Minh toàn tập, NXB Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội, 1995, tập IV, tr.68-71

(11) Harry S. Truman, Memoirs, tập I: Year of Decisions, NXB The New American Library, New York, 1955, tr.589-590.

(12) Hồ Chí Minh toàn tập, sđd, tập IV, tr.82-83

(13) Hồ Chí Minh toàn tập, sđd, tập IV, tr.109.

(14) Bộ Quốc phòng Mỹ, United States - Vietnam Relations 1945-1967, tập I, tr.C-94.

(15) Hồ Chí Minh toàn tập, sđd, tập IV, tr.176- 177.

(16) Hồ Chí Minh toàn tập, sđd, tập IV, tr.182.

(17) Hoàng Anh (Phan Văn Hoàng), “Một tư liệu lịch sử chưa được công bố”, Đặc san Sài Gòn Giải Phóng Tết Dương lịch 2006, tr.8.

(18) George McTurnan Kahin, Intervention - How America Became Involved in Vietnam, NXB Alfred A. Knopf, New York, 1986, tr.4.

(19) Robert S. McNamara, In Retrospect - The Tragedy and Lessons of Vietnam, NXB Times Books, New York, 1995, tr.31.

(20) Charles de Gaulle, Mémoires de guerre, NXB Plon, Paris, 1959, tập III, tr.249-250.

(21) Philippe Devillers, sđd, tr.150.

(22) Robert S. McNamara, In Retrospect - The Tragedy and Lessons of Vietnam, sđd, tr.31.

(23) Daniel Ellsberg, Secrets: A Memoir of Vietnam and the Pentagon Papers, sđd, tr.255.

(24) Báo Cứu Quốc, ngày 5-3-1949.