Thầy Lê Xuân Phương và bài Văn tế trận vong tướng sĩ

Bài Văn tế trận vong tướng sĩ (tương truyền của Nguyễn Văn Thành) xưa thường được coi là một áng văn biền ngẫu thuộc loại kiệt tác. Trước năm 1945, ở các trường thời thuộc Pháp, nó thường được đem dạy ở cấp 2, bậc Thành chung, vì lên đến cấp 3, bậc Tú tài, không còn thời gian dành cho văn học Việt Nam nữa. Ở trường trung học Khải Định tại Huế, lớp chúng tôi đã được thầy Lê Xuân Phương dành ra mấy buổi dạy cho bài đó.

1

Bài Văn tế trận vong tướng sĩ (tương truyền của Nguyễn Văn Thành) xưa thường được coi là một áng văn biền ngẫu thuộc loại kiệt tác. Trước năm 1945, ở các trường thời thuộc Pháp, nó thường được đem dạy ở cấp 2, bậc Thành chung, vì lên đến cấp 3, bậc Tú tài, không còn thời gian dành cho văn học Việt Nam nữa. Ở trường trung học Khải Định tại Huế, lớp chúng tôi đã được thầy Lê Xuân Phương dành ra mấy buổi dạy cho bài đó (1).

2

Buổi giảng đầu tiên của thầy đã lưu lại cho cả lớp tôi và nhất là cho riêng tôi một kỷ niệm khó quên. Thầy mở đầu bằng việc phân tích bố cục của toàn bài.

Thầy lần lượt giảng 6 điểm cho cả lớp ghi: Đây là một bài hiện chỉ còn 26 câu (2); Trong mỗi câu, phần chính văn bao giờ cũng gồm hai vế đối nhau. Phần chính văn là phần cốt lõi tạo nên cái giá trị văn chương cho bài văn tế.


Cụ Phan Bội Châu. Ảnh TL.

Ngoài phần chính văn đó, còn có những lời thêm vào để tán thán như than rằng, ôi…, những lời để xưng hô, khuyên mời như bản tước nay, thượng hưởng…, hoặc những lời đưa đẩy, như đã hay… nhưng... Những lời phụ thêm này cũng rất cần thiết về mặt tình cảm nhưng không thuộc chính văn nên chúng tôi xin in nghiêng ra để tiện phân biệt.


Cụ Huỳnh Thúc Kháng.
Cụ Phan Bội Châu và cụ Huỳnh Thúc Kháng
đã giúp thầy Lê Xuân Phương đính chính những lỗi in sai
trong các sách văn học về bài văn tế… Ảnh TL.

Bài Văn tế này có thể chia thành 3 đoạn. Đoạn A mở đầu bằng 2 chữ than rằng rồi bằng 2 câu:

Trời Đông phố vận ra Sóc cảnh, trải bao phen gian hiểm mới có ngày nay!
Nước Lô hà chảy xuống Lương giang, nghe mấy kẻ điêu linh từ thuở nọ.

Cuối cùng, kết thúc toàn bài là 2 chữ thượng hưởng.

3

Kế đến thầy nhận xét:

Phần B và phần C đều kết cấu như nhau: đều mở đầu bằng một câu ngắn, chỉ 8 chữ gồm hai vế 4 + 4 chữ.

Rồi sau đó cứ luân phiên, một câu dài lại đến một câu ngắn. Các anh xem phần C thấy có đúng thế không?

Thầy dừng lại một tí như có ý chờ chúng tôi kiểm tra cho xong, rồi bỗng nhiên thầy hỏi: Còn phần B thì sao? Tôi có sẵn cuốn sách Việt văn hợp tuyển giảng nghĩa trong tay nên đứng dậy thưa: Thưa thầy, theo trong sách thì phần B còn sót 2 câu ngắn nữa ạ!

Thầy tỏ ra rất phấn khởi, đứng dậy khỏi bục giảng ngay, và hỏi tôi dồn dập: Sách đã in rồi à? Cuốn sách gì? Có phải họ đã thêm câu ruổi rong trăm trận… và câu tình xưa lai láng…không?

Tôi thưa với thầy là đúng 2 câu đó, nhưng đó là 2 câu do anh tôi chép thêm vào trong cuốn sách của Lê Thành Ý và Nguyễn Hữu Tiến biên soạn.

Nghe vậy, thầy lại ngồi xuống, giọng nói có vẻ hơi buồn buồn: Vậy vẫn chưa đâu in ra cả! Anh là em của anh Nguyễn Tài Chất có phải không? Anh Nguyễn Tài Chất trước cũng đã học bài này với tôi. Tôi đã giảng và anh ta đã ghi chép cẩn thận, lưu lại cho anh…

Rồi thầy đứng dậy, đi lại bảng, vừa cầm phấn viết, vừa giảng:

Câu ngắn 2 vế:

Ruổi rong trăm trận áng cương trường
Rải rác mấy người nơi đạo lộ

lại phải thêm vào, chen vào giữa hai câu dài số 10, 11.

Còn câu ngắn 2 vế:

Tình xưa lai láng buổi tà ô
Dấu cũ ngậm ngùi nơi dạ thỏ

lại phải thêm vào, chen vào giữa hai câu dài số 15, 16. Và toàn bài tổng số sẽ có 28 câu cả thảy.

Thầy trở lại ngồi vào bục giảng, vừa trầm ngâm vừa nói: bài văn hay như thế, bố cục chặt chẽ như thế mà sách nào cũng in sai, thật đáng tiếc. Nếu tôi không đặt nghi vấn, chịu khó đi hỏi các chuyên gia, và nếu không có hai vị danh Nho chí tình giúp đỡ thì sao tôi có thể giảng cho các anh được như thế này! (3).

4

Sau ngày 9/3/1945, Nhật đảo chính Pháp, tôi không còn gặp lại thầy. Tôi làm liên lạc viên bí mật cho Mặt trận Việt Minh cho đến tháng 8 rồi sau cướp chính quyền, về địa phương tham gia công tác kháng chiến, rồi vào Ngành giáo dục, rồi đi Liên Xô, rồi về dạy đại học Tổng hợp Hà Nội.

Mãi đến giai đoạn chống Mỹ cứu nước, tình cờ tôi mới gặp lại thầy trong một hội nghị. Hình như đó là ngày họp Hội đồng hương Thanh Hóa tổ chức gặp mặt nhân Ngày Quốc tế các nhà giáo, thì phải. Thầy được mời lên ghế Chủ tịch đoàn, ngồi bên cạnh là nhà thơ Tố Hữu, nguyên Bí thư Tỉnh ủy. Bắt đầu hội nghị, nhà thơ ghé tai nói nhỏ gì đó với thầy rồi đứng lên khai mạc.

Hội trường im lặng. Giọng nhà thơ Tố Hữu sôi nổi: “Thầy Lê Xuân Phương chúng ta đều biết cả rồi. Tôi là học trò của thầy. Nhiều anh em ở đây cũng đã học với thầy. Thầy là một Nhà giáo lão thành, công lao cống hiến cho ngành Giáo dục rất to lớn. Nhưng hôm nay tôi xin kể thêm một bí mật chỉ tôi và thầy biết để chúng ta hiểu thầy hơn nữa.”

Rồi nhà thơ kể lại chuyện, thời Pháp thuộc, một buổi chạng vạng tối anh bị mật thám, cảnh sát bao vây truy lùng. Anh liều trốn vào nhà thầy và thưa thật với thầy. Thầy không những không sợ hãi mà còn tìm chỗ kín đáo cho anh ẩn nấp. Rồi thầy còn hỏi anh cần trốn bao lâu để thầy liệu. Khi biết đêm ấy anh cần phải đi ngay vì một việc gấp, thầy đã bí mật tổ chức cho anh ăn tối, tổ chức cho anh cải trang, đưa anh một số tiền đủ chi tiêu nửa tháng, rồi đến khuya thầy khéo léo giúp anh thoát đi được một cách rất êm đẹp (4).

Cả hội trường như nín thở khi nghe nhà thơ kể chuyện. Và ai ai cũng nhìn hướng về phía thầy, vô cùng xúc động.

5

Tôi cũng xúc động, hiểu thêm về tinh thần yêu nước của thầy và tự nhiên bỗng nghĩ đến hai cụ nhà Nho đã giúp thầy đính chính bài Văn tế trận vong tướng sĩ. Đến giờ giải lao tôi lại chào thầy và hỏi ngay về chuyện ấy. Hóa ra, thầy vẫn say sưa về bài Văn tế.

Thầy nói: Thì tôi đánh liều, tìm cách qua mặt bọn mật thám, mạo hiểm đến hỏi cụ Phan Bội Châu chớ ai? Vừa may có cụ Huỳnh Thúc Kháng ghé thăm nên tôi hỏi luôn cả hai cụ. Hai cụ thuộc lòng bài Văn tế từ nhỏ, hỏi câu nào cũng đọc lên vanh vách. Có thế, các cụ mới giúp chúng ta đính chính được sai lầm này trong lịch sử văn học chứ!


(1)

Nhờ sự giúp đỡ của giới nghiên cứu, trong đó có Nguyễn Đức Mậu ở Viện Văn học và gia đình thầy Lê Xuân Phương. Hiện nay đã biết được năm sinh và năm mất của thầy là (1904-1989).

(2)

Khái niệm câu trong câu đối không giống với câu trong cú pháp. Đó là một đơn vị gồm 2 vế đối nhau, ngay trong một vế có khi còn có thể chia thành nhiều câu nhỏ.

(3)

Trong bài đăng Văn tế nhiều chỗ có dị bản khác nhau như Đèo Ngang đối với lá sổ (chứ không phải lá số), lập lòe lửa trơi (chứ không phải lửa chơi)… và rất nhiều từ ngữ khó, nhưng những điều ấy thầy giảng ở những buổi sau.

(4)

Xin xem thêm Hồi ký Một thời để nhớ để thương của Tâm Hương, NXB Phụ Nữ, năm 2005.