Tiểu luận và phê bình (tiếp): Nguyễn Tuân - Người lữ hành không mệt mỏi của tiếng Việt - hồn Việt

Trong những ngày Hà Nội đánh Mỹ, ta có thể nhìn thấy Nguyễn Tuân mặc một bộ đồ lụa nâu, thong thả giở tờ báo tiếng Pháp trên một chiếc nắp hầm trú ẩn cá nhân ở bãi bia Cổ Tân trước Nhà hát Lớn. Rồi những ngày B52 Mỹ rải bom ở Hà Nội, Cụ lại đội lên đầu cái mũ sắt phòng không, ở lại Hà Nội làm "phóng viên chiến trường". "Tôi thấy tôi đúng. Mình là người viết văn, nhà văn Việt Nam. Trong khi thủ đô – trái tim của cả nước lâm nguy mà bỏ Hà Nội mình đi, thì còn viết cái gì, mình còn ra gì nữa ông?". Cụ bảo với một nhà văn như vậy. Và những trang viết say nồng, phức điệu, giàu màu sắc, giàu ý tưởng... của Cụ trong Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi lại vang lên, tiếp nối những trang tùy bút đã viết trong kháng chiến chống Pháp: Đường vui, Tình chiến dịch, Tùy bút kháng chiến...

Nguyễn Tuân có cốt cách của một nhà văn – một nhà báo chiến trường như Hê-minh-uây, Ê-ren-bua. Ông coi trọng văn từ báo chí, từ những vật liệu hằng ngày, từ việc viết sử hằng ngày. Và như vậy, Nguyễn Tuân đã đi, đã dâng hiến hết mình cho dân tộc, với những kiệt tác văn chương còn mãi: Vang bóng một thời, Sông Đà, Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi, các bài tùy bút, tiểu luận đặc sắc về Tú Xương, Sê-khốp, Đốt-tôi-ép-xki, Nguyễn Du, Lép Tôn-xtôi, Tản Đà, Vũ Trọng Phụng... viết với nhãn lực, bút pháp của một nhà văn bậc thầy và một nhà khảo cứu đam mê, sống với tư liệu. Nguyễn Tuân là kiểu nhà văn vừa truyền thống dân tộc ở độ sâu sắc sung mãn nhất của một người Việt, người Hà Nội – Trường An, có thể có, vừa là nhà văn hóa am tường, say mê văn hóa phương Đông, phương Tây... Nhiều nhà văn nước ngoài, như nhà thơ Nga nổi tiếng E. Ép-tu-sen-cô gọi ông là "nhà văn cổ điển Việt Nam". Đúng như vậy, văn chương của ông đã thành một di sản cổ điển ngay từ lúc ông còn sống.

Nhân vật chính trong tác phẩm Nguyễn Tuân một thời là Nguyễn. Là con một ông tú tài Hán học cuối cùng, Nguyễn Tuân sống và hiểu rõ tập tục "quý phái" của những nhà Nho phong kiến như uống trà, viết chữ, thả thơ, ả đào... Tiếng vọng của một quá khứ văn hóa đến từ những câu chuyện đó. Nó đem lại những niềm luyến tiếc khôn nguôi cho những tâm hồn còn nặng nợ với văn hóa ta, đối lập với cái nhố nhăng, bát nháo của văn hóa thực dân đang du nhập ồ ạt. Đó là sự níu kéo mỏng manh, một "tiếng thở dài chống chế độ thuộc địa" như một nhận định của một nhà văn hóa Cách mạng về văn chương lãng mạn thời kỳ 1930-1945. Vang bóng một thời còn là tình điệu, một phong cách văn chương, một chiều sâu nội tâm ít có,... của một chàng trai mới ngoài 30 tuổi.

Day dứt vì "thiếu quê hương", Nguyễn muốn làm một lãng tử lãng du, nhưng những chuyến đi sẽ đem lại gì ngoài sự chán nản, sâu sắc hơn, sự bất mãn và bất lực trước cuộc đời và trước chính mình. Nguyễn chưa kịp thành một "con người phản kháng", "con người vô luân"..., nhưng cái mầm của các thứ chủ nghĩa cá nhân hiện đại ấy của phương Tây đã thấp thoáng trên trang sách. Rồi Nguyễn đi vào "tàn đèn dầu lạc", vào "hát ả đào", một chút "Liêu Trai" ma quái mê sảng trong Chùa Đàn. Và rồi, Cách mạng tháng Tám đã đến, cuốn bay tất cả những bế tắc đó, và Nguyễn đi kháng chiến. Cuộc đổi đời say mê, tận tụy dâng hiến ấy, nhờ vào làn sóng của thời đại, nhờ vào lòng yêu nước, yêu dân tộc đã ăn sâu bén rễ từ trước ở một người thanh niên trí thức thuộc địa, đã đem đến cho Nguyễn một chân trời mênh mông, phong phú của sáng tạo văn học, từ chân trời Việt Bắc – Cà Mau đến chân trời Lê-nin-grát, Bắc Âu, Trung Hoa...

Người ta nói Nguyễn Tuân có phần "lập dị", kiêu bạc. Không, có lẽ Nguyễn Tuân là người muốn yêu, muốn tận hưởng tình yêu cuộc sống, tình yêu cái Đẹp, tình yêu tiếng Việt trong cái tận cùng của nó, và ông không thỏa mãn, coi thường những kẻ nửa vời... cái Đẹp đối với ông là tất cả, cái Đẹp ngàn năm, cái Đẹp mới mẻ, cái Đẹp của ngày mới Cách mạng, cái Đẹp của cuộc chiến đấu kiên trì anh hùng vô song, cái Đẹp của những đời thường ở cả hai miền nam bắc. Trang văn của ông đã đạt tới đích của Tư tưởng, của Sự thật, của Nghệ thuật.

Có điều Nguyễn Tuân vẫn là Nguyễn Tuân.

Ông không thấy cần thiết phải biến mình thành người khác, hòa giọng đồng ca "thổi sáo ở lẫn giữa ba trăm người" như người xưa nói. Ông bao giờ cũng trăn trở, tìm tòi, tỉ mỉ, nghĩ lớn đồng thời nghĩ tinh tế... trên từng dòng, từng chữ để diễn đạt mình cho hết. Ông đã vắt cạn tài năng, tâm huyết cho từng trang văn, không bao giờ dám không gắng sức. Ông là một trong những người lao động văn chương cần mẫn, một "chuyên viên tiếng Việt", một bậc thầy, và có thể nói một vị "pháp sư" về tiếng Việt. Cái thứ tiếng in hồn dân tộc, hồn người, hồn thời đại mà ông là một kẻ tình chung – sáng tạo: "... Tôi lặng cúi xuống mặt trang giấy trắng tinh đang om sòm những tiếng mời chào kia mà nói bật lên lời biết ơn đối với đất nước, ông bà tổ tiên. Thấy chịu ơn rất nhiều đối với quê hương, ông bà đã truyền cho tôi cái thứ tiếng nói đậm đà tôi hằng nói từ những ngày mới chào đời. Trong hương hỏa âm thanh từ điệu ấy, thấy như hiển hiện lên không biết bao nhiêu mồ hôi và máu huyết của đời ông bà khai rừng, mở cõi, giữ nước chống giặc, tiến lên đến đâu là xây dựng ngôn ngữ tới đó. Nay mỗi lần đụng đến cái di sản nhiệm màu ấy, thấy bổi hổi bồi hồi như vấn vương một cái gì thiệt là thiêng liêng vô giá mà tất cả trữ kim, trữ ngân của tất cả ngân hàng thế gian cũng không sao đánh đổi được".

Nguyễn Tuân và tiếng Việt, Nguyễn Tuân và phong cách văn chương tiếng Việt của ông là một điểm nổi bật nhất khi ta đọc văn ông. Câu văn Nguyễn Tuân, trang văn Nguyễn Tuân trùng điệp, phức điệu và phức cú, diễn tả những quan hệ phức tạp của cuộc đời và tâm trạng cá nhân, điểm nhìn và cách nhìn của tác giả. Tuy thế, về bản chất, nó vẫn là cách nói năng của người Việt, người Việt Hà Nội với tất cả cái đậm đà duyên dáng của nó trong giọng điệu, trong từ ngữ. Các lớp từ bình dân, thông tục chen lẫn giữa các từ "bác học", "Hán học", các từ hàng ngày báo chí nhặt lên từ cuộc sống lao động, chiến đấu của nhân dân hòa vào những từ sách vở, trí thức, chọn lọc... Trang văn là một hòa điệu của âm thanh, trước hết là của tiếng nói, giọng nói. Nó không trôi đi bình lặng, êm ả mà như đối thoại với nhau, tranh luận nhau, đa thanh, phức điệu.
Nguyễn Tuân rất thích tiểu thuyết của Đốt-tôi-ép-xki, nhất là Tội ác và trừng phạt, Anh em nhà Karamazov mà Đốt-tôi-ép-xki nổi bật ở phương điệu đa thanh, đối thoại... Với thi pháp học hiện đại, ta biết đến không những cái đẹp trong cái ý nghĩa nhỏ nhất của đơn vị ngôn ngữ ("hình vị"), mà ta còn biết đến "cái đẹp của cú pháp, từ pháp" câu văn. Câu văn Nguyễn Tuân đẹp là do cấu trúc tầng tầng lớp lớp mà bao giờ cũng sáng sủa, trong trẻo, cũng đúng và cũng đẹp, ở đó ông rất chú ý đến giọng, đến thẩm âm, đến cách sắp xếp các từ, cách thay đổi chức năng từ... để làm nổi bật các mối quan hệ trong sự vật và trong cảm giác của chính ông: "Mùa đông năm 1967, da trời Hà Nội thấp thỏm xanh ngắt một niềm cảnh giác", hay: "Vàng Nga vẫn còn như níu lại giữa khu vườn Bách Thảo có một cặp voi Việt Nam đang mài ngà vào nhau mà nhớ một bụi chuối bên quê cũ". Những câu văn như thế, nhiều câu văn như thế được viết ra lần đầu tiên trong tiếng Việt văn chương, nó có cái đẹp của câu thơ phi tuyến tính – siêu thực hiện đại. Cái cách gặm nhấm, phân tích tinh tế cảm giác, cảm xúc, tâm lý, cái cách liên tưởng nhiều tầng, nhiều lớp... cái đó là của văn chương hiện đại thế giới, được phối hợp với cái mơ màng của một lãng tử phương Đông, nó bao quát thế giới trong một cái nhìn vừa "chủ toàn", trực giác vừa "chủ biệt", phân tích. Nguyễn Tuân đã có công đóng góp cho văn chương tiếng Việt, được bắt đầu từ các bậc thầy văn hóa, văn chương thời Trần, Lê, Nguyễn và văn chương Quốc ngữ. Câu thơ Kiều, câu đối Nguyễn Khuyến, câu văn Nguyễn Tuân được một học giả phân tích thao tác học xếp vào ba loại câu đặc sắc của văn Việt.

Đi qua thế kỷ XX đầy biến động, giông bão và chiến thắng, đi trên "con đường qua thống khổ" của dân tộc để đến vinh quang, Nguyễn Tuân đã chia sẻ tất cả với thời đại, dân tộc, văn chương. Chân dung ông lừng lững ở chân trời thế kỷ. Ông đã đến, đã yêu, đã trăn trở, đã viết và để lại một di sản văn chương đồ sộ, hàng nghìn trang in khổ lớn. Nhìn vào di sản văn chương đó, nhớ đến ông, một cụ già hiền hậu, phong nhã, khi được bạn trẻ Sài Gòn sau 1975 nhào đến xin chữ ký vào Sông Đà, vào Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi đã ứa nước mắt xúc động – những giọt lệ già lăn trên đôi má của một thời gian khó. Cụ đã ăn những bữa cơm đạm bạc, nhâm nhi chút khô mực chấm tương ớt với vài chén rượu Gò Đen cùng chúng tôi ở Sài Gòn năm 1978. Ông có ăn uống được bao nhiêu đâu, mặc dù nổi danh ẩm thực... Cuộc đời, thế hệ ông là hy sinh gian khổ, nhường vinh quang cho con người, làm cái rễ cây hút nhụy đời cho trang văn. Để đến hôm nay hồn ông bát ngát bay lên trên trời Hà Nội – Thăng Long 1.000 năm lịch sử, trên cả bầu trời Cà Mau – Huế – Sài Gòn mà ông thương yêu tận lòng...

Điều cuối cùng tôi trộm nghĩ: Nguyễn Tuân, một trí thức ở nước thuộc địa nửa phong kiến, kế thừa dòng máu yêu nước của các sĩ phu, đã yêu đất nước của mình, văn hóa dân tộc mình, nhưng bế tắc và bất lực. Thời đại Hồ Chí Minh đã đến, cơn bão táp Cách mạng và kháng chiến đã cuốn trôi tất cả những sống mòn tục lụy, những han gỉ của cuộc đời Một đêm mưa ma (Vũ Trọng Phụng) tê tái buồn, đưa ông đến với chân trời nhân dân, Tổ quốc. Nguyễn Tuân đã lớn dậy, phát huy hết tài năng, tâm huyết, trở thành nhà văn, đại sư, nhà văn hóa lớn của dân tộc. Lừng lững bóng dáng của ông cuối chân trời thế kỷ XX và bóng dáng của ông sẽ còn che mát cho chặng đường chúng ta hôm nay. Chúng ta nguyện đi theo con đường ấy của Cụ, con đường của văn chương nghệ thuật xả thân cho Độc lập – Tự do của Tổ quốc, của Chủ nghĩa xã hội và nhất định chúng ta sẽ phải kiên trì con đường ấy, không dời chuyển, không đổi chí, không đổi tiết, không để các thế lực bên ngoài gây áp lực, không tự thoái hóa, biến chất thực dụng vì lợi ích cá nhân – lợi ích cục bộ: "Chỉ vụ ích kỷ phì gia, thiên hạ lớn lao chẳng hề đoái tiếc" (Nguyễn Trãi). Hy sinh cao cả như thế hệ đàn anh kháng chiến Cách mạng, như Nguyễn Tuân và bao anh hùng chiến sĩ, thì sự nghiệp của chúng ta, dù đã trải qua thử thách đến mấy, cũng sẽ đến được bờ thắng lợi. Ba mươi năm chúng ta đã giành lại nước, hơn ba mươi năm chúng ta đã xây dựng bước đầu cơ ngơi vật chất cho chủ nghĩa xã hội. Nếu chúng ta kiên trì, kiên tâm đi tiếp trên con đường lớn Hồ Chí Minh, "dĩ bất biến, ứng vạn biến" của tình hình, xây dựng hạ tầng con người – văn hóa – giáo dục, hạ tầng vật chất trong điều kiện lịch sử của truyền thống văn hóa Việt Nam ta, thì giấc mộng về đất nước và nhân dân đẹp vô cùng trên từng trang văn thao thức của tâm hồn cụ Nguyễn và của bao sĩ phu khác nhất định sẽ thành hiện thực.