Tiểu luận và phê bình văn học (tiếp): Bản chất mỹ học của cái cười trong "Số đỏ"

Người ta đã từng gọi Số đỏ là "tiểu thuyết vỉa hè", "tiểu thuyết đô thị", "tiểu thuyết hoạt kê"... và người ta cũng phân tích đến cạn kiệt những vấn đề về bản chất xã hội, về các lớp sóng ngôn từ, về ý nghĩa tư tưởng, về điển hình hóa nhân vật... của cuốn tiểu thuyết này. Đó đều là những vấn đề quan trọng, cốt lõi của cuốn tiểu thuyết kỳ lạ, vô song này (nhưng tôi không nghĩ là nó có gì, "khủng khiếp" như có người quan niệm). Ở đây, tiếp tục các công việc đã làm ấy, tôi muốn nêu lên một vấn đề mà tôi cũng cho là quan trọng để hiểu được Số đỏ vấn đề bản chất mỹ học của cái cười trong Số đỏ.

Tôi muốn đi từ bản chất mỹ học của cái cười trong văn học Việt Nam truyền thống, đặc biệt là từ văn học cười dân gian Việt Nam. Dù muốn hay không, Vũ Trọng Phụng, cái thiên tài 27 tuổi ấy cũng là một con người Việt Nam từ trong bản chất sinh thành và bản chất xã hội.

Dù Vũ Trọng Phụng đã tiếp nhận và biến đổi bao nhiêu văn học Pháp, văn học thế giới với cái vốn liếng Pháp "đủ xài" của ông, với cái vốn tiếng Pháp tốt nghiệp trường Tiểu học Hàng Vôi đó, dù chuyên cần đến đâu, Vũ Trọng Phụng cũng không thể tiếp xúc nhiều với văn học Pháp, văn hóa phương Tây. Vì vậy mọi sự nói về ảnh hưởng trực tiếp của văn hóa phương Tây, văn hóa Nga chỉ là phỏng đoán thôi; dù Vũ Trọng Phụng đã sống và viết vào cái thời đột biến, bước ngoặt của nền văn học Việt Nam chuyển qua hiện đại một cách mạnh mẽ và gấp gáp, chỉ trong vòng có mươi năm nó đã đi trọn một vòng đời văn học lẽ ra phải đi hàng thế kỷ... Dù gì đi nữa, tóm lại một câu, thiên tài của Vũ Trọng Phụng vẫn phải cắm sâu vào mảnh đất của Việt Nam truyền thống. Không có truyền thống ấy, truyền thống cười của dân tộc Việt Nam, từ tiếu lâm, ca dao, tục ngữ, Trạng Quỳnh, Trạng Lợn, hề chèo, hề tuồng, điêu khắc đình làng, ngôn ngữ "mách qué" cuối chợ đầu thôn... không có nền văn hóa ấy, hẳn sẽ không có Số đỏ.

Bởi vì Số đỏ là đứa con tinh thần của văn học Việt Nam, là số thành trực tiếp hay gián tiếp của nền văn hóa Việt Nam, đặc biệt là nền văn hóa dân gian cười Việt Nam và nó là một cách nhìn, một cách khám phá, giải thích xã hội và con người theo kiểu vừa truyền thống vừa phi truyền thống.

Cái cười là một điểm rất mạnh của truyền thống Việt Nam, điều này có thể so sánh với tiếng cười Trung Hoa, Nhật Bản, Á Đông... GS Đặng Thai Mai từng dẫn một bài minh thế kỷ XIV, đại ý: "Vạc nhà Chu là đồ thần, vạc đất Việt là đồ Phật. Thần dễ đổi thay, Phật thường vui vẻ. Hỡi người sắp tới, chớ có đúc lầm* (!). Vui vẻ lạc quan nhưng không kém bi phẫn, đớn đau... đó cũng là cái cách thế mà người Việt Nam đi qua cuộc đời, đi qua kiếp người.

Nguyễn Trãi, thiên tài mẹ (génie-mère) của văn học chúng ta, người chiến thắng quân Minh cuồng bạo, lại chết oan ức dưới lưỡi gươm bạo tàn của triều đại do chính mình dựng nên. Nguyễn Trãi đã cao cả, hoành tráng trong Bình Ngô đại cáo, Phú núi Chí Linh, trong thơ chữ Hán (Bạch Đằng, Vân Đồn...), nhưng mà trong thơ Nôm, ông lại cười cợt, tự trào:

Ngoài sáu mươi dư tám chín thu

Lưng cày da xẻ tướng lù khù

Một vĩ nhân, nhất là một vĩ nhân nho học và quí tộc – cấm cười mà tự nói là lưng mình như lưng thợ cày, da mình như da thợ xẻ và hình tướng mình thì lù khù, phải đâu chuyện dễ. Phải ở gầndân, "bình dị cận dân" như bài Châm ông để ở bàn làm việc, phảisống gần "manh lệ", gần bè rau muống, lảnh mồng tơi, con vằn, con vện, phải "đau đáu""lo sao cho trong thôn cùng xóm vắng không có tiếng hờn giận oán sầu" mới có được cái chất tự trào, cái cười mỹhọc phi Nho phi Thiền ấy... Đỗ Phủ trầm thống mà không cười; LýBạch phiêu dật mà không cười; Vương Duy thi Phật lại càng khôngcười như Nguyễn Trãi, không bình dân như Nguyễn Trãi, người nhắn người yêu hãy lấy một chiếc áo đơn lẻ đắp, để nhớ hơi ấm của mình... (Ngoài ấy dù còn chăn áo lẻ, Cả lòng mượn đắp lấy hơi cùng).

Đó là một đôi nét của truyền thống cười Việt Nam khởi đi từ Nguyễn Trãi và tiếp sau sẽ là Nguyễn Du, là Hồ Xuân Hương, là Nguyễn Khuyến và nhất là Tú Xương, Ba Giai Tú Xuất, Tú Mỡ, một vệt cười lớn trong truyền thống văn học và văn hóa Việt Nam.

Ở đây, nương theo cách phân tích của M.M. Bakhtin, tôi muốn lưu ý các bạn một hiện tượng cũng vô song, kỳ lạ là hiện tượng thơ Nôm truyền thống của Hồ Xuân Hương. Đó là, như nhà nghiên cứu Nikulin đã nhận định: "Thơ Hồ Xuân Hương cũng có vẻ như một sự đột phá vào lĩnh vực văn học nghệ thuật đỉnh cao của nền văn hóa dân gian Việt Nam còn chưa được thừa nhận". Và trong sự phối hợp giữa hai cái đối nghịch ấy, thơ Hồ Xuân Hương chứa đựng cái thế giới quan lễ hội đòi hỏi sự bình đẳng, chứa đựng cái cười nhị chức năng và thủ pháp kéo xuống dưới, chứa đựng tiếng cười toàn dân với chủ nghĩa hiện thực dị hợm (grotesque – tôi muốn dịch chữ này là dị hợm, một chữ miền Trung, thay vì nghịch dị) – cái dị hợm của thân xác con người.

Và như thế, chẳng hạn như, khi ta phân tích và đối chiếu bài thơ Sư hoàn tục: "Cái kiếp tu hành nặng đá đeo – Trái gió cho nên phải lộn lèo" với câu chuyện tiếu lâm "đẻ ra sư" từ hạ bộ của một chị phụ nữ đi cấy, ta sẽ thấy sự trùng khớp giữa tầng quan niệm cho đến thủ pháp kéo xuống dướitiếng cười nhị chức năng giữa bài thơ và văn hóa dân gian (một chị có chửa xắn quần đi cấy, bị con cua cắp vào bẹn, la rầm lên, đúng lúc ấy ông sư đi qua, động lòng từ bi xuống cứu, nhưng sợ uế tạp, không dùng tay, mới thò miệng vào cắn cái càng cua, bị nó dùng cái càng kia quắp vào đấy. Trẻ con thấy, la làng: Ơ kìa, đẻ ra sư, đẻ ra sư).

Nhân nói về sư, xin được nói ngay rằng, nhân vật sư chủ bút báo Gõ Mõ đại diện cho Phật giáo tân thời trong Số đỏ là một sáng tạo mới của Vũ Trọng Phụng về kiểu loại nhân vật này, nó có sự thừa kế cách nhìn của văn hóa cười dân gian truyền thống về việc mô tả các nhà sư.

Vậy tiếng cười trong Số đỏ, về bản chất là tiếng cười gì?

Trước hết tôi thấy rằng giữa thơ Hồ Xuân Hương và Số đỏ thì cái cầu nối trực tiếp là thơ Tú Xương. Thơ Tú Xương là thơ của tiếng cười nhại xã hội đô thị vào cái thời buổi thực dân Pháp đẩy mạnh công cuộc khai hóa và làm xuất hiện một đối tượng mới của tiếng cười: xuất hiện những chất liệu mới, vấn đề mới, nhân vật mới. Bên cạnh ông Cử ngỏng đầu rồngbà đầm ngoi đít vịt, đồng tiền, là phố xá cô đầu, 1à sông lấp, của những tang thương thời đại... Và để chủ thể của tiếng cười, thì ông Tú không còn là một nhà Nho thuần túy nữa, mà ở đây cũng không còn là cái tiếng cười của nền văn chương trung đại mang bản chất dân gian đậm đặc như Hồ Xuân Hương nữa. Đây là tiếng cười đả kích, đánh một nhát chết tươi, "phủ định triệt để" kiểu như là "Thật là vừa dốt lại vừa ngu"; "Ông chỉ phê ngay một chữ tiền"...

Còn Vũ Trọng Phụng thì sao? Xuân tóc đỏ thì sao? Đó đâu còn là những nhà Nho lỡ vận, ưu thời mẫn thế mà chua chát tiếng cười cay cú, đó cũng đâu phải là tiếng cười nhại của văn học Phục Hưng châu Âu trong anh chàng hiệp sĩ mặt buồn Đông-ki-sốt! Nó là tiếng cười của một anh trí thức viết văn "vô nghề nghiệp" như kiểu phân loại của người làm căn cước, một kiểu trí thức hạng gần dưới đáy, sống mòn bằng ngòi bút là anh chàng Vũ Trọng Phụng, được thác sinh vào một nhân vật bất hủ là anh chàng nhặt banh – "sinh viên trường thuốc"... sản phẩm của một đô thị thuộc địa bát nháo và pha tạp, nhố nhăng, dị hợm... Và đấy là phản ứng của một "tôi con" thuộc địa trước cái mô hình đô thị mà thực dân đã lồng ghép một cách áp đặt vào xã hội Việt Nam.

Nếu trong xã hội đó, người ta nghe qua thơ mới, nhạc mới, tiểu thuyết Tự Lực Văn Đoàn... "một tiếng thở dài chống chế độ thuộc địa" (Trường Chinh), một tiếng thở dài buồn úa vàng nhiều trang thơ nhiều nốt nhạc lúc ấy, thì qua Số đỏ người ta nghe thấy một tràng cười giòn giã, nhạo báng những sản phẩm tân thời vừa mới xuất hiện, tự xem mình là đại diện cho cái mới, cái tân tiến, nhưng mà bản chất của nó là sự rỗng tuếch và sự dị hợm.

Như ý của K.Marx nói "khi muốn đưa một hình thái xã hội đã già cỗi đến huyệt, thì lịch sử trải qua rất nhiều giai đoạn. Giai đoạn cuối cùng của một hình thái lịch sử, chính là tấn hài kịch của nó (...). Tại sao lịch sử lại diễn theo tiến trình ấy? Là để cho nhân loại rời bỏ được quá khứ một cách vui vẻ", Vũ Trọng Phụng đã dùng cái cười để tiễn đưa một xã hội thuộc địa phong kiến già cỗi cuối mùa. Và chẳng bao lâu sau, y như rằng nó đã kết thúc với Cách mạng tháng Tám và cuộc kháng chiến chống thực dân xâm lược.

Nhưng cái cười trong Số đỏ khác với cái cười của Tú Xương trước đó và cái cười của Tú Mỡ cùng thời. Nó có nét gần với Hồ Xuân Hương trong tiếng cười nhị chức năng: nó không một chiều đả kích, mà dường như vừa phủ định, nhưng không tiêu diệt (dĩ nhiên là cũng không tái sinh ở hạ tầng phồn thực như kiểu Hồ Xuân Hương: Chúa dấu vua yêu một cái này; Trái gió cho nên phải lộn lèo; Mỏi gối chồn chân cũng cứ trèo...).

Vũ Trọng Phụng không thù ghét Xuân tóc đỏ: ông lột tả bản chất, sự sinh thành của nó, ý nghĩa nhân sinh của nó... nhưng ông nhìn nó có phần như một cái gì ngồ ngộ, thậm chí còn có chút ít cảm tình nữa. Bởi theo cái nhìn của ông, Xuân tóc đỏ chỉ là hệ quả, chỉ là hệ lụy của một mớ quan hệ xã hội, tồn tại xã hội. Nó có đấy một cách tự nhiên, nó xuất hiện và vận hành theo những ngẫu nhiên, tình cờ nhưng có tính quy luật sâu xa.

Ai đã đẻ ra, tài bồi nên, phát triển và hoàn thiện nhân vật Xuân tóc đỏ? Đó chính là cuộc đời, đó chính là những nhân vật chung quanh: Phó Đoan, cô Tuyết, cụ cố Hồng, Văn Minh... họ thực sự là những lực đẩy, là sân khấu để cho Xuân tóc đỏ xuất hiện, hoạt động và hoàn chỉnh vở hài kịch nhân gian của mình, từ một anh nhặt banh biến thành "Giáo sư quần vợt" – học hàm "giáo sư" này không qua các thủ tục tấn phong nào cả – và trở thành một "anh hùng cứu quốc"!

Vậy vấn đề đặt ra đối với Vũ Trọng Phụng, trong cái nhìn của Vũ Trọng Phụng là vấn đề xã hội, vấn đề tồn tại khách quan của hiện thực, chứ không phải là vấn đề của những cá thể.

Ở đây Vũ Trọng Phụng đã vươn tới tầm của "tiếng cười toàn dân" trong văn học dân gian, trong thơ Hồ Xuân Hương và vì thế tiếng cười của ông mang một tầm cỡ triết lý nhân sinh mà đồng thời vẫn mang ý nghĩa thời sự.

Đương thời, Nguyễn Công Hoan cũng cười, Tú Mỡ cũng cười, Đồ Phồn cũng cười, Lý Toét, Xã Xệ của Tự Lực Văn Đoàn cũng cười. Cái cười của Nguyễn Công Hoan nổ bùng vui vẻ nhưng nhanh chóng kết thúc, tiếng cười của Nam Cao là cười gằn đau đớn và u ám nhưng tiếng cười của Vũ Trọng Phụng trong Số đỏ là một tiếng cười nằm sâu trong hệ hình văn học Việt Nam truyền thống, đồng thời khác lạ không giống ai, thời sự, mới mẻ hiện đại trong ngôn ngữ và trong cấu trúc tác phẩm.

Ngôn ngữ nhân vật, ngôn ngữ kể chuyện... trong Số đỏ là một thứ ngôn ngữ "đầu đường xó chợ", ngôn ngữ "bụi đời", ngôn ngữ "nước mẹ gì", "mẹ kiếp" tương ứng với cái mà Bakhtin gọi là "ngôn ngữ quảng trường" trong Rabelais và các tác giả thời Phục Hưng châu Âu – một thứ ngôn ngữ bị đuổi ra khỏi thứ ngôn ngữ quý phái, salon, sách vở.

Ở ta, có đối lập với ngôn ngữ của tiểu thuyết lãng mạn "đốt em đi" mà Vũ Trọng Phụng chúa ghét và nhại, chế giễu. Ngôn ngữ ở đây không chỉ là ngôn ngữ, các lớp từ vựng, các câu cú, ở đây còn là sự thể hiện một cách nhìn và đánh giá thế giới thực tại. Nó tạo thành giọng điệu, là cốt lõi của giọng điệu: giọng điệu Vũ Trọng Phụng là sự vang dội của cuộc đời vào con người ông, vang dội vào tình cảm, suy nghĩ và cả trực giác của ông. Và nó dội lại trở thành tiếng cười nhại, thành một bản hòa tấu những cung bậc khác nhau của tiếng cười, một tràng cười qua những lớp vỏ ngôn từ đậm chất Xuân tóc đỏ, nhưng trong sáng và cao quý chứ không cay cú, nhỏ nhen bao giờ: dường như ông ở trên cái thực tại đáng cười ấy một bậc chứ không đứng ngang tầm. Số đỏ chứng tỏ Vũ Trọng Phụng là nhà văn nhân văn chủ nghĩa kiểu loại nhà văn thời Phục Hưng.

Qua đợt sóng cuối cùng của ngôn từ Số đỏ, người ta nhận ra tình cảm chính trị và cách đánh giá thực tại của ông là tích cực và sắc sảo. Ông nhận thấy bộ máy thống trị thực dân đã sử dụng và liên kết với cái thế lực lưu manh chính trị, với bọn "vô sản lưu manh" – từ của K.Marx – bọn "thổi loa cho hiệu thuốc lậu và chạy hiệu rạp hát", bọn "vô học ma cà bông". Bọn này bắt đầu nhảy vào sân chơi chính trị và đám đông dân chúng trong tiểu thuyết cũng bị lây lan chất cơ hội chính trị. Nó đã đồng tình và hô lớn: Xuân tóc đỏ vạn tuế, Bác sĩ Xuân vạn tuế... Vũ Trọng Phụng đã có một cái nhìn tiên tri về một số trào lưu chính trị cơ hội diễn ra trên khắp thế giới cả sau khi ông đã mất.

Đúng như Xuân Diệu đã có lần nói, Vũ Trọng Phụng "có cái khuyết điểm là chết sớm quá", nếu không thì với những tình cảm chính trị như vậy, với tình cảm của ông đối với những chiến sĩ cách mạng mà ông tiếp xúc và thể hiện theo cách nhìn của ông, một cách nhìn phức tạp và đầy mâu thuẫn, với cái nhìn bi phẫn về xã hội thực dân phong kiến cuối mùa của ông, với tình cảm dân tộc của ông, với thân phận của ông, ông sẽ dễ dàng đi vào cách mạng và kháng chiến, như bao nhiêu nhà văn khác đã đi

Cấu trúc tác phẩm của Vũ Trọng Phụng với các đề mục có vẻ chương hồi truyền thống nhưng là một sự cách tân vì nó gây cười, vì nó nhại cả truyền thống. Đó là một câu chuyện liên hoàn nhưng tách ra từng thiên như các thiên phóng sự. Phóng sự là thế mạnh của Vũ Trọng Phụng: ở đây dường như là một sự pha trộn thể loại và đó là một sự mới mẻ, một sáng tạo nữa của Vũ Trọng Phụng. Vũ Trọng Phụng đã nạp vào một cuốn tiểu thuyết với số trang không lớn dung lượng cô đặc của một xã hội với bao nhiêu vấn đề nóng bỏng, với một thế giới nhân vật đại diện đầy đủ cho "nhân loại", một bức tranh hoành tráng, một bách khoa thư về thời đại của mình...

Vũ Trọng Phụng đã trở thành thiên tài mà không tự biết. Ông đã viết một cuốn tiểu thuyết không ai viết được thời ông và cả gần một thế kỷ sau ông, cho đến tận ngày nay, người ta vẫn khát khao một Số đỏ mới, một Vũ Trọng Phụng mới xuất hiện. Tài năng trữ tình đã khó, tài năng châm biếm càng khó hơn nhiều.

Giờ đây, Xuân tóc đỏ đã trở thành một điển hình bất tử, một từ riêng: mỗi khi có cái gì tương tự, trong chính trị, trong xã hội, người ta liền buột miệng: Xuân tóc đỏ. Và Xuân tóc đỏ sẽ còn sống lâu dài. Lùi lại trong thời gian, Số đỏ và tác giả của nó càng trở nên lớn lao, lớn lao mà vẫn bình dị, gần gũi với mọi trái tim Việt Nam: đó chính là bí ẩn của thiên tài chưa bao giờ được khám phá hết.

 

----------

* Đặng Thai Mai: "Mấy điều tâm đắc". Thơ văn Lý Trần, tr.45 tập I. Nxb Khoa học xã hội, 1977.