Tiểu luận và phê bình văn học (tiếp): Phạm Văn Đồng - Người con, người kiến tạo thế kỷ XX của Việt Nam

Khoảng 20 tuổi (1926), Phạm Văn Đồng gặp Nguyễn Ái Quốc ở Quảng Châu (Trung Quốc) và đó là một cuộc gặp gỡ quyết định đối với toàn bộ cuộc đời của ông. Nguyễn Ái Quốc lớn hơn Phạm Văn Đồng 16 tuổi và cho đến lúc ấy Người đã trải qua một quãng đường hoạt động gần như trên toàn bộ hành tinh này: Pháp – Anh – Liên Xô – Hoa Kỳ, châu Phi, châu Á. Cả hai đều đã học ở Quốc học Huế, cả hai đều là người miền Trung đói nghèo và hiếu học. Về sau này, do những lý do riêng (Nguyễn Ái Quốc không có gia đình, còn Phạm Văn Đồng thì vợ ốm, tâm thần, nên ông ở vậy), người này đã tìm thấy ở người kia một cái gì đó như là cái tôi thứ 2 của mình. Thực vậy, Phạm Văn Đồng là người gắn bó sâu sắc, dài lâu, là người học trò được Hồ Chí Minh dành cho những tình cảm yêu thương vô hạn. Hoạt động ở biên giới Việt – Trung, Phạm Văn Đồng đóng vai phiên dịch tiếng Pháp cho Bác Hồ (để Bác giữ được bí mật); và có một câu chuyện vui: anh phiên dịch này khi thấy tàn thuốc lá rơi trên áo Bác, đã kêu to: Cháy! bằng tiếng Việt, quên khuấy vai trò của mình. 1942-1943 cũng trên biên giới, ở Cao Bằng, Phạm Văn Đồng bên cạnh Bác và về Hà Nội cũng thế. Có mấy năm đầu kháng khiến, ông được cử về Liên khu V để tổ chức kháng chiến, rồi lại trở về Việt Bắc. Cuốn sách của Phạm Văn Đồng viết về Bác Hồ những năm này đã gây nên niềm xúc động sâu xa, niềm tin tuyệt đối vào vị lãnh tụ thiên tài của công cuộc giải phóng. Đó là một áng văn vẽ nên chân dung của một con người với một bút pháp tài hoa nhưng súc tích, sâu sắc. Nó tiêu biểu cho văn phong của nhà văn – nhà văn hóa lớn Phạm Văn Đồng hùng hồn nhưng chứa chan tình cảm, hình ảnh tráng lệ và được chọn lọc như khi làm thơ. Năm 1946, Phạm Văn Đồng đã dẫn đầu phái đoàn Việt Nam đàm phán với Pháp ở Fontainebleau và tên tuổi của ông nổi bật trên chính trường quốc tế từ đó. Năm 1954, Phạm Văn Đồng thay mặt Việt Nam đàm phán ở Genève và đi đến ký hiệp định. Đó là kết quả của một chặng đường trên con đường còn dài. Khi trở về báo cáo với Bác Hồ, ông nói đại ý: "Hiệp định đã được ký, nhưng không phải vĩ tuyến 16 mà là vĩ tuyến 17. Bác bảo: 'Thôi được, đằng nào thì chúng ta cũng phải chuẩn bị để đối phó với kẻ thù chính là Hoa Kỳ'.

Sau đó, Phạm Văn Đồng làm Thủ tướng, ông là một con người toàn diện: đó là nhà hành pháp, người điều hành kinh tế – tài chính – ngoại giao – văn hóa... và ở lĩnh vực nào người ta cũng thấy cái tâm và cái tầm của ông, cái tâm cái tầm của một con người đem hết tâm huyết để phục vụ cho một sự nghiệp, một đất nước và nhân dân vô cùng yêu thương.

Trong những năm đó, cùng với các đồng chí lãnh đạo khác trong Bộ Chính trị, Phạm Văn Đồng đã làm trọn vẹn, xuất sắc vai trò của người đứng đầu Chính phủ ở hậu phương lớn – nơi có ý nghĩa quyết định đối với toàn bộ công cuộc giải phóng. Người và của, ngoại giao và đấu tranh với Mỹ, xây dựng văn hóa – giáo dục; gởi nhân tài đi đào tạo; cân thóc và tấm vải, thuốc men và thầy thuốc cho hậu phương và cho cả chiến trường... biết bao công việc mà người đứng đầu Chính phủ phải lo toan. Với một sức khỏe phi thường, nước da ngăm ngăm đen và thân hình tráng kiện của một cầu thủ, ông làm việc liên tục. Thế mà vẫn còn thì giờ quan tâm sâu sắc về tiếng Việt, về Nguyễn Trãi, Nguyễn Du... về những vấn đề rất bác học. Và không những quan tâm mà còn viết thành văn, và không chỉ những viết văn, ông còn bao cuộc gặp gỡ, tiếp xúc với anh chị em văn nghệ, nhà nghiên cứu. Đâu đâu ông cũng được yêu mến, và ông không chỉ động viên, chỉ đạo suông mà sẵn sàng giúp đỡ, giải quyết một cách thân tình, hiệu quả.

Phạm Văn Đồng đã dẫn đầu nhiều đoàn đại biểu đi thăm nhiều nước. Uy tín của ông trên trường quốc tế là uy tín của con người văn hóa Phạm Văn Đồng: người kết tinh cái đẹp, cái cao cả, cái nhân ái của một dân tộc biết giữ gìn gốc rễ và sẵn sàng học một cách sâu sắc, tinh hoa phương Tây – ở đây là qua văn hóa Pháp. Ông đã đi thăm Pháp sau 1975, thăm Trung Hoa và ở đây ông đã nói những lời thấm thía về cái vĩ đại của văn hóa Trung Hoa, thăm Liên Xô, dĩ nhiên... Năm 1976 ở hội nghị các nước không liên kết họp ở Colombo khi ông bước vào Hội trường, cả Hội trường bao gồm các nguyên thủ quốc gia đã đứng lên vỗ tay chào mừng! Những người ngoại quốc đã tiếp xúc với ông đều thấy ở ông một con người thông minh nhưng nhân hậu, ông thuyết phục họ ở tấm lòng mình.

Những năm cuối đời, làm cố vấn – danh nghĩa vậy thôi, có "cố vấn" hay không ông vẫn là Phạm Văn Đồng ấy, suốt đời làm việc, lo toan cho đất nước. Những năm khó khăn do khủng hoảng, do Liên Xô – Đông Âu sụp đổ, kẻ thù tấn công... ông vẫn "vững như đồng" vẫn truyền niềm tin, ý chí vào cho mọi người. Ông góp phần vào thắng lợi của công cuộc đổi mới đất nước, đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng nghiêm trọng và tiến lên. Nhưng ông bao giờ cũng nhìn thấy nguy cơ bên cạnh thời cơ, ông thường nói: "Thời cơ có thể đến rồi đi, nguy cơ thì ở lại". Và ông đau lòng, nhức óc khi tiếp xúc với cán bộ, nhân dân... biết rất nhiều những thoái hóa, cơ hội... trong Đảng, trong bộ máy Đảng nhà nước... ông cũng đau đáu, bức xúc trước tình trạng giáo dục – văn hóa hiện thời: tình trạng có số lượng mà chất lượng giảm sút nhanh, nhân tài không có hay là chưa được sử dụng đúng; nhất là tình trạng thế hệ trẻ chưa được giáo dục, tạo điều kiện để kế tục sự nghiệp Cách mạng: ông ví tình trạng ấy như cái rừng cây đã già mà không có cây non thay thế...

Sống gần 100 năm là một kỳ tích, sống với một chất lượng cao với biết bao cống hiến vô giá cho Tổ quốc và loài người, cho hôm nay và mai sau, cho văn hóa là cái sẽ thuộc về vĩnh cửu... Đồng chí Phạm Văn Đồng chính là cái tượng đài bất diệt của con người Việt Nam thế kỷ XX.

Các bác sĩ, y tá... đã chăm sóc sức khỏe với tất cả tình cảm của mình cho đồng chí Phạm Văn Đồng. Các thầy thuốc Trung Quốc sang giúp đỡ hội chẩn... cũng công nhận các bác sĩ ta đã chữa bệnh rất tốt. Nhưng ở một người đã gần 100 tuổi, thuốc men và sự chăm sóc cũng đành bất lực. Như nhiều trường hợp khác, y học phải trao tay cho định mệnh một con người của thế kỷ. Và cùng với tất cả mọi người, giờ đây họ cũng tiếc xót nghĩ về một con người vĩ đại và đầy yêu thương.

3/5/2000