Tiểu luận và phê bình văn học (tiếp): Tố Như có phải là bút hiệu của Nguyễn Du không?

Tạp chí Xưa & Nay, số 7, tháng 7/2010; Tạp chí Hồng Lĩnh, số 57, tháng 7/2010 đều có đăng bài của ông Võ Giáp, nội dung như sau:

"Tôi may mắn được bạn cố tri tặng cho bài viết của tác giả Phạm Trọng Chánh từ Paris xa xôi gửi về. Thế mới biết ở đâu cũng có người yêu quê hương và nghiêm túc trong khoa học. Ông viết: Các nghiên cứu về Nguyễn Du và Hồ Xuân Hương trong tất cả thế kỷ XX đã sai lầm, ngay cả bút hiệu gán cho Nguyễn Du cũng là một lầm lẫn nghiêm trọng, tố như (không viết hoa – VG chú) không phải là bút hiệu của Nguyễn Du, mà chỉ có nghĩa là người con gái có phẩm hạnh cao quý... Bất ngờ quá, tôi say sưa đọc và suy ngẫm. Cuối cùng, tôi đồng tình với tác giả bởi tính thuyết phục của nó mà tôi nhận thức được...

Đầu tiên phải hiểu nghĩa hai chữ "tố như". "Tố" là tơ trắng, chỉ người có phẩm hạnh cao khiết. "Như" là như vậy, như cũ, giống như. Chữ "tố như" xuất hiện trong hai câu:

Bất tri tam bách dư niên hậu

Thiên hạ hà nhân khấp tố như

Đây là hai câu kết của bài Độc Tiểu Thanh ký do Nguyễn Du viết năm 1804, lúc đang làm Tri phủ Thường Tín, ông về thăm Cổ Nguyệt đường thì Xuân Hương đã làm lẽ người ta. Thực chất là Nguyễn Du thương số phận Hồ Xuân Hương sao mà giống số phận của Tiểu Thanh, nên mượn hình ảnh của Tiểu Thanh để nói về Hồ Xuân Hương...

... Vậy ta hiểu "tố như" trong bài thơ này là ai? Chẳng lẽ trong sáu câu trên của bài thơ viết về Tiểu Thanh mà hai câu kết lại nói về tác giả. Theo tôi, Nguyễn Du, dùng nội hàm "tố như" để chỉ Tiểu Thanh và cũng là Hồ Xuân Hương. Hơn 300 năm sau, Nguyễn Du khóc Tiểu Thanh, còn hơn 300 năm sau nữa ai người khóc Hồ Xuân Hương...".

*

Ông Phạm Trọng Chánh ở xa, thiếu nhiều tư liệu, nên võ đoán, sai lầm cũng dễ hiểu, nhưng nói: "Các nghiên cứu về Nguyễn Du và Hồ Xuân Hương trong thế kỷ XX đã sai lầm, ngay cả bút hiệu gán cho Nguyễn Du cũng là một sai lầm nghiêm trọng..." thì ông đã đi từ võ đoán đến... kiêu mãn.

Vậy sự thực là thế nào?

Đầu tiên là Gia phả: Hoan Châu – Nghi Tiên Nguyễn gia thế phả (Gia phả họ Nguyễn làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, Nghệ Tĩnh), chép: "Công húy Du, tiểu húy Du, tự Tố Như, hiệu Thanh Hiên" (公 諱 攸 小 諱 瑜 字 素 如 號 清 軒 – Ông tên húy là Du, tiểu húy Du, tự Tố Như, hiệu Thanh Hiên).

Họ Nguyễn Tiên Điền có lệ, tên người đều có bộ nhân 人 (亻), còn Du 瑜 là ngọc du, một thứ ngọc quý.

– Nguyễn Đề (1761-1805), anh ruột Nguyễn Du, có các bài thơ: Hoài Tố Như đệ (Nhớ em Tố Như), Ký Tố Như đệ (Gửi em Tố Như), Thị Tố Như đệ (Dặn bảo em Tố Như), Kinh đường lệ nhai hoài Tố Như (Đi qua dãy phố trồng cây đường lệ nhớ em Tố Như), Tống Tố Như đệ tự Phú Xuân kinh Bắc hoàn (Tiễn em Tố Như từ kinh đô Phú Xuân về Bắc), 5 bài... (theo Trương Chính tuyển tập, t.I, tr.453-461).

– Nguyễn Hành (1771-1824) trong bài Văn thúc phụ Lễ tham tri phó âm cảm tác (Cảm tác khi nghe tin chú là tham tri Bộ Lễ từ trần), có câu: "Thập cửu niên tiền Tố Như tử – Nhất thế tài hoa kim dĩ hĩ" (Mười chín năm trước đây – khoảng 1801, lúc Nguyễn Du chưa ra làm quan triều Nguyễn – Tố Như tử là bậc tài hoa nhất đời). Trong bài Lạp tụng (Ca tụng việc đi săn) có lời chú: "Chú ruột là Nguyễn Du, tự Tố Như, tính thích đi săn, nhân viết bài này để mà chơi" (x. Trương Chính, sđd, tr.462-469).

– Mộng Liên Đường, một người đồng thời Nguyễn Du, viết: "Tố Như tử dụng tâm đã khổ, đàm tình đã thiết".

Chưa kể sau này nữa, thì chừng ấy chứng cứ cũng đủ chứng tỏ là Tố Như là tên tự (tên chữ), do mình đặt ra, khác với húy (tên cúng cơm) là tên cha mẹ đặt. Sau này, người ta dùng tên tự này gọi Nguyễn Du, thành bút danh, bút hiệu, cũng để tránh húy, tỏ sự kính trọng. Tố Như đã là tên thường gọi, quen thuộc trong lịch sử văn học.

– Vậy Tố Như (素 如) có nghĩa là gì? Thường tên tự xuất phát từ tên húy, lấy điển tích, lấy chữ trong kinh truyện... để đặt. Ngô Thì Nhậm (1746-1803) có tên tự là Hy Doãn, vì ông Doãn, một hiền thần đời Chu, được Khổng Tử gọi là "thánh chi nhậm" (vị thánh gánh vác công việc) nên ông Nhậm hy vọng có một sự nghiệp như ông Doãn.

Nguyễn Du tên húy là Du 攸, Du 攸 nghĩa là vụt, thoáng; chốn, nơi. 攸 攸 nghĩa là vời vợi, dằng dặc, như một đám mây lững lờ bay ở xa: "Bạch vân thiên tải không du du", lòng theo nước hồ cùng vời vợi: "Tâm tùy hồ thủy cộng du du" v.v...

Có lẽ, Nguyễn Du từ đó mà đặt tự là Tố Như. Tố nghĩa là trắng, trắng nõn, nguyên màu, không, suông, từ trước, vốn dĩ, lụa trắng... (Từ điển Hán – Việt, Nxb Trẻ, tr.1550).
Tố Hữu nếu viết 素 有 thì là vốn có, viết 素 友 là người bạn trong trắng.

Từ như 如 nghĩa bình thường là theo đúng, giống như, bằng, nếu, hình như (nt, tr.544-545), nhưng trong Phật có nghĩa là cái bản thể của Như Lai, của Phật. Chân 真 là chân thật, không hư vọng; như thường, không biến đổi, không sai chạy. Chân như 真 如 tức là Phật tính, cái tính chân thật, không biến đổi, như nhiên, không thiện không ác, không sinh không diệt (Phật học từ điển, Đoàn Trung Còn, q.I, tr.397, Nxb Tổng hợp TP. HCM, 2005).

Có bài thơ của một sư cụ:

Chữ nghĩa văn chương tám vạn tư,

Học thời không thiếu cũng không dư

Năm nay học lại chừng quên hết,

Chỉ nhớ trên đầu một chữ như.

Cũng có ý vị. Như vậy, chữ như là một từ Phật giáo. Và Tố Như có thể có nghĩa là cái chân như – tố như (chân và tố đồng nghĩa) của Phật.

Xem thơ chữ Hán, xem Truyện Kiều, xem Văn tế thập loại chúng sinh..., ta đều biết Nguyễn Du thâm thúy về kinh Phật, về Phật pháp đến thế nào:

– "Ngã độc Kim Cương thiên biến linh"

– "Ngã tâm thường định bất ly Thiền"...

("Ta đọc kinh Kim Cương đến hơn nghìn lượt"

"Tâm ta thường định, không xa rời Thiền")...

Thế thì việc Nguyễn Du đặt một tên tự có màu sắc Phật cũng là dễ hiểu.

*

Bây giờ đến chữ Tố Như (素 如) trong Độc Tiểu Thanh ký của Nguyễn Du, có phải là chỉ "người con gái có phẩm hạnh cao quý" như cụ Phạm ở Paris nói không? Và có phải Nguyễn Du đã sáng tác Độc Tiểu Thanh ký vào năm 1804 lúc ông thăm Cổ Nguyệt đường, lúc Xuân Hương làm lẽ người ta nên Nguyễn Du mượn hình ảnh Tiểu Thanh để nói về Hồ Xuân Hương chăng?

Theo tôi thì không phải. Đang làm thơ về Tiểu Thanh, sao lại tự nhiên lại chuyển sang nói về Hồ Xuân Hương một cách bất ngờ, bí ẩn (cho là có "ngụ ý" như vậy thì làm sao ai biết, ai "giải mã"?). Đó là căn cứ vào bài thơ của Hồ Xuân Hương trong Lưu hương ký (Cảm cựu kiêm trình học sĩ Nguyễn Hầu) với lời chú: "Hầu người Tiên Điền" mà đoán rằng hai người yêu nhau. Về mặt văn bản học, còn phải tìm hiểu thêm bài thơ rất hay, rất lâm ly đó với lời chú có thật là do Hồ Xuân Hương viết ra không nữa... thì mới xác quyết được. Văn bản Lưu hương ký cũng còn có vấn đề để thảo luận. Về phía Nguyễn Du thì trong thơ chữ Hán không hề thấy nói một lời nào về quan hệ đó. Bài Mộng đắc thái liên mà Cụ Hoàng Xuân Hãn cho rằng, "hình như nhắc nhở đến hồi dan díu với Xuân Hương, bài này chứng minh rằng Nguyễn Du có lúc nhớ đến một bạn gái xưa ở cạnh hồ Tây tại Thăng Long, đã từng hẹn hò nhau đi hái sen trên hồ. Tuy bút chứng không muốn trỏ là ai, nhưng lấy mọi bằng chứng mà suy thì tôi đoán đó là Xuân Hương, có lẽhợp lý".

Quả thật là thơ trong Mộng đắc thái liênthơ cổ điển – tượng trưng (loại thơ này Lý Bạch – Bạch Cư Dị và các nhà thơ khác làm rất nhiều), không có chi tiết nào chân thật chỉ rõ đó là Hồ Xuân Hương, Cụ Hoàng cũng chỉ đoán, có lẽ..., hợp lý...; chứ làm gì có bằng chứng? Một là có thể là tưởng tượng, theo đề tài cổ thi mà viết, hai là cô gái hàng xóm cùng hái sen thì có khối cô, cứ gì phải là Hồ Xuân Hương. Hồ Xuân Hương lúc gặp Nguyễn Du, khi Nguyễn Du ra làm quan với nhà Nguyễn ở Thăng Long, nếu có, thì chắc cũng đã "luống tuổi" rồi (theo như nhiều đoán định), chứ đâu còn tươi trẻ như cô gái trong bài thơ.

Tóm lại, chắc chắn là Nguyễn Du không thể dùng hai câu kết trong bài Độc Tiểu Thanh ký để nói về Hồ Xuân Hương. Cho rằng đó là hai câu cảm thán cho thân phận mình, một nghệ sĩ, một tài tử cùng hội cùng thuyền với Tiểu Thanh: "Phong vận kỳ oan ngã tự cư – Ta tự xem mình là người cùng hội cùng thuyền với mối oan lạ lùng vì nết phong nhã của Tiểu Thanh", xem ra còn có lý hơn, câu thơ hay hơn, thấm thía hơn:

不 知 三 百 餘 年 後

天 下 何 人 泣 素 如?

Bất tri tam bách dư niên hậu

Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như?

(Ba trăm năm nữa ta đâu biết, Thiên hạ ai người khóc Tố Như?)