Tổng quan về chương trình sách giáo khoa tiếng Việt và Ngữ văn phổ thông 2001-2020

Trong một Hội nghị mới đây, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đã nhận định, đại ý: ngành giáo dục vừa qua đã có những thành tựu, nhưng một số mặt vẫn còn hạn chế, vì vậy cần lắng nghe ý kiến đóng góp của toàn xã hội.

Bài viết dưới đây là một đóng góp như thế, nhất là trong thời điểm 10 năm cuối của quá trình 20 năm đổi mới chương trình sách giáo khoa (CT-SGK) phổ thông. Và cũng bởi vì những khởi điểm của nó thuộc vào đầu thập niên cuối của thế kỷ XIX, với những ảo vọng và giới hạn của nó, ngành giáo dục hiện tại cần phải nhìn nhận lại, đánh giá lại, nhất là khi giáo dục đang đứng trước một nhiệm vụ chính trị còn hệ trọng hơn 10 năm trước.

Sau tổng quan, ngoài những nhận xét, phân tích, bình giá, bài viết còn muốn nhắm tới một mục tiêu chiến lược cao hơn. Xin được trình bày trong những bài sau.

*

Rào cản lớn nhất hiện tại mà ngành Giáo dục vấp phải, chính là những rào cản cơ chế và trí tuệ chiến lược (1), thể hiện qua cách tổ chức làm CT-SGK từ 20 năm nay; ở đó, những thói quen được bảo thủ và tự giới hạn trong những quyết sách thiếu tính hướng đích. Và, trong khi các chuyên gia chờ đợi một sự thông thái viện dẫn từ bên ngoài (như CT-SGK nước ngoài chẳng hạn), thì những mục tiêu vẫn cứ chạy vòng quanh.

Sự thiếu tin tưởng và gây bức xúc thường xuyên của CT-SGK phổ thông (trong đó có tiếng Việt và Ngữ văn), chính là tính bất cập của nó trước tri thức và thực tại – những tri thức cần và đủ để đào tạo ra một thế hệ sẽ thực hiện mục tiêu căn bản của nhà trường hiện đại là tái thiết đất nước, đáp ứng những yêu cầu ngày một cao của đất nước ở thế kỷ XXI, chứ không phải một loại bản sao của tri thức và cuộc sống.

Mặc dù đã cố gắng đổi mới, nhưng CT-SGK vẫn nghèo nàn, bị cắt khúc. SGK Ngữ văn dài dòng, nhưng lại bỏ qua nhiều tri thức văn hoá nền tảng, cần thiết cho sự phát triển đặc thù của một quốc gia phương Đông như nước ta trong thời hiện đại.


Ảnh minh họa

Cấu trúc tích hợp cứng, cồng kềnh, đã trở nên hình thức, không linh hoạt. Phương pháp dạy / học bị lạm dụng, thể hiện qua hệ thống câu hỏi, khiến bài học càng trở nên dài và nặng nề. Phương pháp suy luận trong làm văn rất yếu. Tư duy suy luận trong toàn hệ thống không được bổ trợ tích cực, sức mạnh ngôn ngữ không được phát huy để trở thành một ngôn ngữ đẳng cấp (2). Vấn đề tư duy lại các nền văn học; việc giải mã lại các tác phẩm văn học chưa hề được đặt ra trong biên soạn CT-SGK, nên cách hiểu và cách biên soạn còn cũ kỹ.

*

Đáng lẽ các nhà lãnh đạo cũ và các soạn giả phải xác định được chiến lược về một CT tối ưu, còn SGK thì biên soạn một cách ngắn gọn (3) trân trọng và kế thừa sáng tạo những tri thức nhân loại đã tích lũy được – để giúp người học đến với mục tiêu nhanh hơn, chân thực hơn; và để họ khỏi sa vào cạm bẫy những mục tiêu vô ích. Một nhà lập trình có nói: Hãy tạo ra một chương trình, sao cho chương tình đó thông minh hơn chính người làm ra nó! (4).

*

Thực tế, những thất bại và vấp váp của kỳ thi tốt nghiệp phổ thông và đại học niên học 2008-2009, kỳ thi đầu tiên thực hiện theo CT-SGK mới, có lẽ đã là những yếu tố gần đủ để chúng ta cần phải suy nghĩ lại, rằng không biết có nên để học sinh mình học tiếng Việt lại trượt đúng tiếng Việt nhiều như thế hay không. Đương nhiên, tình trạng này có nguyên nhân và phải được chữa trị từ cấp tiểu học.

Nếu giáo dục với sự đầu tư của nhà xuất bản và sự cộng tác của một số cộng tác viên giỏi, thì với hơn hai bộ sách Ngữ văn trung học phổ thông, có thể làm lại ngay để tạo được một bộ mới; lựa chọn cái hay, cái thích hợp, bỏ cái dở, cái dài dòng, cái không thích hợp.

Chỉ có như thế, mới giúp giáo viên và học sinh thực sự tránh được những thất bại không cần thiết, trong khi chờ đợi một CT-SGK mới, trong đó có Ngữ Văn, mà từ nay đến 2015 Bộ Giáo dục mới ban hành. Bởi nhiệm vụ chính trị đó cao hơn, mà sự lựa chọn tư liệu và khả năng giải mã tác phẩn văn học thì vẫn ở phía trước.


(1)

Một khi trí tuệ chiến lược yếu, đội ngũ chuyên gia có giỏi đến mấy cũng không phát huy được tác dụng.

(2)

Ngôn ngữ là ngôi nhà của tồn tại… Ngôn ngữ thuộc loại đẳng cấp cao nhất trong cuộc sống chúng ta - Đánh giá của nhà triết học Heidegger. Còn Emile Durkheim (nhà giáo dục Anh) thì chủ trương qua văn học nghệ thuật, chuyển tải ý thức về sự đa dạng của loài người.

(3)

Tính ngắn gọn từng là 1 trong 3 mục tiêu chiến lược giáo dục của Mỹ, tạo ra sức mạnh vượt Liên Xô vào nửa sau thế kỷ XX.

(4)

Ví dụ Luận ngữ - một loại chương trình đào tạo tối ưu của Khổng Tử. Chương trình đó, thậm chí, tạo ra Nho đạo và lịch sử. Ví như CT&SGK Lịch sử – có thể làm tăng tính hiệu quả nếu nhấn mạnh tư tưởng và nghệ thuật quân sự.