Toàn cầu hóa đi về đâu?

Trong bài phỏng vấn của tạp chí Le Point số2187 (ngày 14-8-2014), cựu Thủ tướng Malaysia, ông Mahathir Mohamad, nổi tiếng là một "chính trị gia hiền triết" (un sage) của châu Á, không tiếc những lời phê bình nóng bỏng về tình hình thế giới.

Ngoài việc cho rằng nền kinh tế Hoa Kỳ đang lụn bại và đồng đôla Mỹ chỉ là “đồng tiền của loài khỉ” (Les Etats-Unis sont en faillitte. Le dollar est une monnaie de singe), cũng như nhận định rằng các vị tổng thống Mỹ chỉ là con tin của thành phần tư bản tài chánh (Obama n’y peut pas grand-chose, car les présidents sont les otages de Wall Street), ông Mahathir dạy cho châu Âu một bài học. Tuy nhiên bài học này chứa đựng một mâu thuẫn cơ bản, theo cách nhìn của người châu Âu, đặc biệt là người dân Pháp, mà họ không thể đồng ý với quan điểm của ông.

Một mặt, ông Mahathir cho rằng, nền kinh tế không còn sản xuất ra vật dụng và dịch vụ để xuất khẩu, mà chỉ chơi đánh bạc với các thị trường tài chánh. Người ta không thể chơi đánh bạc ăn thua suốt cả đời. On ne peut pas jouer au casino toute sa vie!). Mặt khác, ông Mahathir cho rằng, người dân châu Âu sống vượt trên mức khả năng kinh tế của họ, giá thành sản phẩm và dịch vụ quá cao, thời gian làm việc ít ỏi chỉ có 35 giờ một tuần, có quyền đình công, lương lại tăng lên và hưởng quá nhiều phúc lợi xã hội, nên không thể cạnh tranh với châu Á, nơi mà con người làm việc quần quật ngày đêm, lương thấp, và hiện giờ thành phần trí thức châu Á, như ở Trung Quốc và Hàn Quốc, đã đạt được tầm mức khoa học kỹ thuật ngang ngửa với châu Âu. Cũng theo ông, dân chủ không chỉ có nghĩa là tự do mà còn là nhận trách nhiệm.

Người dân châu Âu không thể có cùng quan điểm với ông Mahathir, vì, ai là người có khả năng chơi đánh bạc suốt đời?, ai là người có tự do?, ai phải nhận trách nhiệm xã hội?, chính sách thắt lưng buộc bụng đè nặng lên thành phần nhân viên lao động là một chính sách bóc lột dân chúng đến tận cùng, nối giáo cho thế lực tài chánh, chủ nhân.
Thị trường tiêu thụ nội địa Pháp đã giảm xuống mức tối đa, vì chính sách siết tài khoản rất chặt chẽ của các ngân hàng Pháp, khiến cho mọi người dân đều không thể tiêu xài vượt số tiền hàng tháng có được, có bao nhiêu thì chỉ tiêu xài bấy nhiêu, không làm sao mà tiêu nhiều hơn được, hở ra một chút là các ngân hàng Pháp khóa tài khoản, khóa thẻ tín dụng, không nhận ngân phiếu khiến cho người dân rất túng quẫn. Điều này khác hẳn chính sách khuyến khích tiêu thụ của Đức, các ngân hàng đều cho những người có thu nhập đều đặn trong tài khoản được tiêu xài hơn từ một đến ba lần con số thu nhập hàng tháng mà chỉ phải trả một số tiền lời không quá cao như ở Pháp, lên đến 20%. Thí dụ: bạn có 4.000€ thu nhập hàng tháng, ngân hàng Pháp rộng rãi lắm thì cho bạn một khoản tiêu dùng vượt mức là 3.000€, và bạn phải trả tiền lời 20% trên con số 3.000€ này, trong khi tại Đức, bạn có thể chi tiêu vượt mức thêm 12.000€ trong tháng khi cần thiết. Điểm lợi là ở Pháp ai cũng rất sợ mắc nợ, tiêu nhiều hơn có, nhưng trên bình diện kinh tế quốc dân thì khi sức mua giảm, đẩy thị trường tiêu thụ nội địa xuống chạm đáy. Sở dĩ nước Pháp tự cho phép thực thi chính sách “hà hiếp” dân chúng này vì nguồn thu nhập từ du khách nước ngoài quá lớn, bù đắp cho sự tiêu thụ yếu kém của dân chúng bản địa.

Đứng về mặt lịch sử, người dân Pháp luôn hãnh diện là xã hội Pháp đã làm nên cuộc Cách mạng Dân chủ 1789 lật đổ thể chế quân chủ, người dân làm chủ vận mệnh đất nước.

Đứng về mặt chính trị, người dân Pháp luôn hãnh diện là đã tranh đấu để có quyền tự do, có quyền đình công, có quyền bảo vệ ba chữ “Liberté, Égalité, Fraternité” (Tự do, Bình đẳng, Tương trợ) theo tinh thần “Tuyên ngôn nhân quyền 1789” (Déclaration de droits de l’homme 1789), trong khi các công đoàn bảo vệ quyền lợi của người lao động ở châu Âu cũng có hiện tượng bị giới chủ nhân mua chuộc, lũng đoạn.

Đứng về mặt kinh tế, chương trình 35 giờ một tuần nhắm mục đích là giới chủ nhân phải thâu nhận thêm nhân công, tạo thêm công việc cho người dân, khi họ muốn duy trì mức độ sản xuất. Nhưng chương trình 35 giờ một tuần đã bị “tiêu diệt” bởi giới chủ nhân, vì họ tăng cường độ lao động và áp dụng các loại máy móc sản xuất tự động thay thế cho sức người, dời cơ xưởng sản xuất sang những nước nhân công rẻ mạt, nên hậu quả là nạn thất nghiệp vẫn trầm trọng tăng chứ không giảm.

Cho dù, nếu người lao động châu Âu đồng ý làm quần quật ngày đêm, nhận đồng lương rẻ mạt như ở châu Á thì điều tất nhiên sẽ xảy ra là “nội loạn”, vì mức sống với giá sinh hoạt quá cao không cho họ một con đường nào khác để sống còn. Giới chủ nhân định mức tất cả các loại giá thị trường, từ sản phẩm tiêu dùng, dịch vụ cho đến những nhu cầu cơ bản như điện, nước, chất đốt để sưởi mùa đông, điện thoại, phương tiện di chuyển… quá cao để thu mức lợi nhuận theo tiêu chuẩn của họ tự đặt ra. Người dân châu Âu mất dần “sức mua” (pouvoir d’achat), phải sống rất tằn tiện, tự hạn chế tiêu thụ từ nhiều năm nay, nhiều người chỉ ăn khoai tây chấm muối, bánh mì… qua ngày, nhiệt độ mùa đông trong nhà phải giảm xuống còn 13°C, 14°C, không còn dám sưởi ấm lên 18°C, 19°C như những năm trước. Sức mua của thị trường nội địa càng giảm thì giới đầu tư tài chính càng vắt thêm lợi nhuận. Nhưng theo quy luật toán kinh tế thì “vắt” đến khi nào sẽ không còn vắt thêm được nữa?!, chính họ phải biết điều đó!

Theo yêu cầu của Tổng thống François Hollande, chính phủ Valls 1 từ chức đồng loạt ngày 25-8-2014, để tránh việc cách chức ba bộ trưởng “nổi loạn” là ông Arnaud Montebourg, ông Benoît Hamon và bà Aurélie Filippetti. Chính phủ Valls 2 mới hình thành ra mắt ngày 26-8-2014. Tân bộ trưởng trẻ tuổi Emmanuel Macron, nguyên nhân viên ngân hàng, phụ trách Bộ Kinh tế, Kỹ nghệ và Tin học đã tuyên bố theo đường hướng “social-libéral” ngay: “Chúng tôi sẽ cho phép các hãng xưởng và các ngành nghề, trong bối cảnh có thỏa thuận đa số, được thay đổi các nguyên tắc về số giờ làm việc và lương bổng”. Nói một cách khác, đó là những sự tấn công và phá vỡ chương trình 35 giờ một tuần cũng như hệ thống mức lương tối thiểu, đem lại thêm nhiều quyền lợi cho giới chủ(1).

Nạn thất nghiệp là hậu quả của một nền kinh tế bị mất sức cạnh tranh trên thị trường thế giới và những quyết định tăng mức lợi nhuận của thành phần đầu tư, chủ nhân. Nó không phải là nguyên nhân của sự kém tăng trưởng. Ý kiến của giáo sư kinh tế/chính trị học Jean-Paul Fitoussi là đúng đắn, muốn có tăng trưởng kinh tế phải cho người dân có sức mua, sức tiêu thụ(2). Các biện pháp tăng thâu thuế thu nhập của dân, tăng thuế gián thâu và duy trì mức độ thất nghiệp cao là phản tác dụng.

Một bình diện quan trọng khác là sự cần thiết cải tổ guồng máy hành chánh quốc gia, tuy nước Pháp tập trung mọi quyền lực, hoạt động văn hóa chính yếu về thủ đô Paris, một mặt, sự phân quyền về các vùng, khu vực hành chánh, tỉnh, thành… là một biểu hiện dân chủ, nhưng, mặt khác, quá nhiều tầng lớp hành chánh như hiện nay cũng gây ra tốn kém lớn cho ngân sách quốc gia và trì trệ về mặt thời gian. Một cái làng nhỏ chỉ có 100 dân mà cũng có một bộ phận quản lý hành chánh lên đến 11 người có chức có quyền. Cứ 1 người “quản lý” 9 người!

Đứng về mặt xã hội thì “con giun xéo lắm cũng quằn”, sự kiện “tái phân phối” (Redistribution) của xã hội Pháp cũng là một điều kiện thiết yếu để bảo đảm an ninh xã hội. Nước Pháp lại có nhiều mối quan hệ thuộc địa cũ, mà trên bình diện ngoại giao quốc tế, Pháp cần gìn giữ các mối quan hệ này phòng khi có biến động thế giới thì có chỗ dựa.

Thống kê chính thức của INSEE năm 2014 thông báo cho năm 2011 cho biết 14,3% dân số Pháp, tức 8,729 triệu gia đình thuộc hạng “nghèo” rớt mồng tơi, tức là chỉ sống dưới mức định nghĩa “nghèo” là 977€ thu nhập một tháng (định mức 60% của thu nhập trung bình). Trong tổng số này thành phần người già trên 65 tuổi chiếm 10,9%(3).

Trong khi giá thuê nhà trung bình ở Paris cho một căn hộ 30m² là khoảng 900€, ở thành phố lớn như Orléans 500€, Nantes 375€, Nice 600€… (cộng thêm phụ phí điện, nước, sưởi ấm, điện thoại, Internet…). Chỉ có ở thị trấn nhỏ, vùng quê thì giá thuê nhà mới giảm xuống khoảng 10€/m2. Người dân Pháp thường sống chen chúc trên một diện tích nhà ở nhỏ hơn là dân Đức, gọi là phòng riêng thường chỉ có từ 7m2 - 9m² đủ kê một cái giường, một cái tủ áo nhỏ, một cái bàn con và một cái ghế ngồi.

Chỉ số GINI của Pháp là 36,2% cho năm 2011. Chỉ số (100-S80)/S20 đo khoảng cách giữa 20% người nghèo nhất và 20% người giàu nhất tăng từ 5,7 (2005) lên 6,3 (2011)(4).

Một bản thống kê khác của INSEE cho thấy tình trạng chia cách giàu/nghèo của nước Pháp trong năm 2011, tính theo định nghĩa thuế vụ, như sau(5):

90% dân số Pháp có từ 0 - 39.200€/năm.

9% dân số Pháp có từ 39.200 - 93.000€/năm.

- 1% dân số Pháp có từ 93.000€/năm trở lên vô tận, trong 1% này có thêm sự phân chia từ giàu cho đến giàu nhất như sau:

- 0,90% có từ 93.000€ đến 256.000€/năm

- 0,09% có từ 256.000€ đến 810.700€/năm

- 0,01% có trên 810.700€/năm.

Mùa hè chưa kịp chấm dứt, đúng cuối tháng 8, dân chúng còn đang lo sắm sửa tập vở cho con cái nhập trường vào đầu tháng 9 thì giấy báo nộp thuế thu nhập của người lao động ăn lương cho năm 2014 và 2015 đã bay đến nằm trong hộp thư. Nhiều gia đình phải trả thêm thuế, thay vì đến hết tháng 9, thì phải nộp thêm thuế 2014 cho đến tận cùng tháng 12, còn cho năm 2015 thì mức thuế thu nhập tăng rất rõ, tức là người dân thấy trước là phải giảm tiêu thụ đi ngần ấy tiền trong năm 2015 sắp tới.

Toàn cầu hóa, trong mục đích tư bản hóa thế giới, đang phân chia giai cấp theo đồng tiền, một thiểu số quá giàu có bên cạnh một đa số nghèo hèn, sống chật vật thiếu thốn ngày qua ngày. Toàn cầu hóa tạo cơ hội cho người giàu có chuyển tài sản ra nước ngoài, giấu trong những “ốc đảo thiên đường tài chánh”, để bớt trả thuế cho quốc gia mà ngày lại càng giàu có hơn vì tiền đẻ ra tiền, lãi mẹ đẻ thêm lãi con lãi cháu. Toàn cầu hóa đang hủy hoại tầng lớp trung lưu, phân chia sự xa cách to lớn giữa thành phần chơi cờ bạc casino(6) và thành phần thất nghiệp, đau ốm, phải sống nhờ vào các quỹ phúc lợi xã hội. Lỗi không phải tại người dân lao động lười biếng, chỉ muốn ăn bám. Lỗi là nằm ở sự “vắt” lợi nhuận của giới chủ nhân và thành phần tài chính đầu tư, khi mà mức thâu lợi nhuận phải tăng trước kia là 2%, 3% dần dà lên 10%, 15% rồi 20%, 25%. Người đầu tư cho vay 100, đòi phải được thâu lại 125, nếu không thì họ rút vốn, hãng xưởng đóng cửa dẹp tiệm, nhân công lao động thất nghiệp.

Nhưng toàn cầu hóa sẽ “đụng” vào chính giới hạn của nó, đó là tinh thần quốc gia dân tộc. Các tuyên bố gần đây của các chính trị gia đều nhuộm màu sắc quốc gia, thí dụ rõ nét ở chủ trương chính trị của nước Đức. Họ trở lại nguyên tắc phân biệt như cũ, phân biệt người “Đức” và người “ngoại quốc” các loại (Ausländer) gộp luôn dân của các nước thành viên khối Liên minh châu Âu. Các xã hội sẽ bị bắt buộc phải đi dần vào khuynh hướng bảo vệ sản phẩm và dịch vụ quốc gia, bảo vệ thị trường quốc gia, bảo vệ tài nguyên môi trường quốc gia, bảo vệ nền giáo dục quốc gia, bảo vệ bản sắc dân tộc văn hóa quốc gia để có thể bảo đảm chủ quyền và độc lập. Không có chủ quyền và độc lập thì không thể có tự do và dân chủ. Không còn đường nào khác!

 

_____

(1), (2) Thông tin của tạp chí Le Point, 28-8-2014.

(3) Viện Thống kê quốc gia INSEE, Fiches thématiques – Revenus - Les revenus et le patrimoine des ménages, édition 2014, tr.70 – 87.

(4) Chỉ số GINI biểu thị bởi đường cong Lorenz là hệ số đo mức độ chênh lệch, bất bình đẳng trong sự phân phối thu nhập của một nền kinh tế. Chỉ số GINI di chuyển từ 0 đến 1, hệ số 0 là sự bình đẳng tuyệt đối, hệ số 1 là sự bất bình đẳng tuyệt đối. Mức trung bình của châu Âu là 30,6%, nước Đức 28,3%, nước Anh 32,8%. Sự phân phối tương đối tốt hơn, dưới 27% là ở ba nước Thụy Điển, Phần Lan, Hà Lan (Bắc Âu) và ba nước Đông Âu, tuy thu nhập thấp nhưng không có chênh lệch lớn là Slovaquie, Slovénie, Cộng hòa Tchèque.

Trích trong: Magali Beffy, Marie-Émilie Clerc, Insee; Céline Thévenot, Commission européenne. Dossier - Inégalités, pauvreté et protection sociale en Europe...

(5) Viện Thống kê quốc gia INSEE, Fiches thématiques - Revenus - Les revenus et le patrimoine des ménages, édition 2014, tr.95.(6) Thị trường chứng khoán thế giới đang được gọi là nơi chơi đánh bạc ăn tiền “casino”, vì người đầu tư mua/bán cổ phần trong nháy mắt như những canh bạc, tùy theo lợi nhuận sẽ kiếm được, mà không còn đếm xỉa đến sự kiện đằng sau những việc mua/bán, chuyển/rút vốn đầu tư đó là số phận của hàng triệu triệu người lao động bị lệ thuộc vào sản xuất/tiêu dùng và những quyết định của chủ nhân.