Trái đôi Xuân Diệu, Huy Cận với Tự Lực Văn Đoàn

Lấy chăn che phủ ghế chui qua/ Ngăn bàn thích lục, tranh gà thích xem/ Xếp rồi cháu lại đảo lên/ Có hôm bác phải mười phen dọn nhà” (1), ấy là câu thơ của Xuân Diệu tả chú cu Vũ đang biến cuộc sống văn chương ngăn nắp của ông tại 24 Cột Cờ (nay là Điện Biên Phủ, Hà Nội) thành một trật tự thế giới mới, trật tự của những sự đảo lộn. Và Xuân Diệu đã tôn trọng cái “nền giáo dục tự thân và tự giác” ấy của tôi như điều kiện tiên quyết để hình thành nhân cách tri thức.

Về phần mình, đơn giản tôi nghĩ là nếu không có người bác và là người cha nuôi thân yêu ấy thì làm sao tôi có thể hình dung nổi thuở bé thơ của mình. Nói cách khác, các bậc phụ huynh chính là những người đầu tiên chép sử con cái của họ. Sau khi đã mệt nhoài với những kiến tạo thế giới theo cách của mình, lại nằm co vào lòng bác tôi để thiu thiu thực hành một nền học vấn không tự giác hay vô thức qua lời ru của ông với “Phụ tử tình thâm” và những câu hát giọng Nghệ Tĩnh.

Đôi khi thảng thốt tôi tỉnh dậy và mở mắt ra (cũng dễ hiểu vì giấc ngủ chớm trưa không thật sâu) thì vẫn thấy bác Diệu tôi ngồi đó, tựa lưng vào thành giường, lời ru không còn thành tiếng nhưng vẫn nhận biết được nhờ những nhịp vỗ khẽ lên tôi, cái nhìn trở nên xa xăm, chốc chốc ông lại nhìn xuống nhoẻn cười với tôi nhưng vẫn với cái xa xăm ấy. Khi chớm tuổi đến trường thì chiến tranh đã lan ra miền Bắc và thế là tôi phải xa gia đình đi sơ tán, tất nhiên không ngậm ngùi như cậu bé Rémy của Hecto Malo.

Thực vậy, liên hệ giữa tôi và gia đình hầu như không bị gián đoạn, vì cứ vào cuối tuần bác tôi lại xắn quần đạp xe 30km về thăm tôi tại chùa Thầy. Chính vào những đêm đầy sao trên bờ thửa cánh đồng nơi sơ tán mà tôi được Xuân Diệu truyền cho cái vi diệu của những áng văn cổ: hết Nguyễn Khuyến, Bà Huyện Thanh Quan, Hồ Xuân Hương lại đến Chinh phụ ngâm của Đoàn Thị Điểm và trở đi trở lại là Truyện Kiều của Nguyễn Du, đại văn hào cùng quê Hà Tĩnh. Nhưng lúc đó tôi đến với văn học một cách bán ý thức: có thấy được cái Hay, cái Đẹp nhưng lại không cố tìm hiểu hết nghĩa mà những con chữ lung linh như những vì sao kia chuyển tải. Vào tuổi thành niên, sự tò mò cao độ của tôi về bản ngã may mắn thay lại được thỏa mãn với sự hiện diện Đoạn tuyệt, Lạnh lùng, Hồn bướm mơ tiên, Nửa chừng xuân, Dọc đường gió bụi, Tiêu sơn tráng sĩ trong tủ sách của bác tôi.

Những pho truyện tình cảm đó của Tự Lực Văn Đoàn thời ấy bị liệt vào “sách cấm”, ấy vậy mà bác tôi không cản tôi đọc, thậm chí còn giảng giải là đằng khác. Tôi còn nhớ bác tôi tấm tắc mãi với bố tôi, Huy Cận, câu của Phạm Thái - người câu cá: “Chí lớn trong thiên hạ không đựng đầy trong hai con mắt mỹ nhân”.

Thật lạ, đọc những truyện ấy tôi cũng thấy thú vị như khi đọc những mẩu truyện về các anh hùng dân tộc và cách mạng. Không những tôi không cảm thấy bi lụy, buồn chán với những cuộc tình ảo não, vô vọng mà còn hứng khởi trước những tình cảm mới mẻ, rất có cá tính, điều mà tôi không cảm nhận được một cách rõ ràng từ nền giáo dục đương thời. Cũng có thể tôi không còn ở cái thời đại của những con người “tiểu tư sản” nào đó sống không có mục đích rõ rệt đâm ra chán đời. Nhưng trong bối cảnh cuộc chiến vẫn tiếp diễn, cái “tập thể” dường như từ chỗ nhân danh đã đi đến gần như thay thế hẳn cái “riêng”, cái “cá nhân” chí ít trên bình diện xã hội, nên những cái gì giúp tôi “giải mã” được những cái “cảm” của trẻ trai mới lớn thật sự làm tôi khoan khoái.

Mặt khác, cũng phải nói rằng những tình cảm nhân đạo của những Anh phải sống, Gánh hàng hoa, Đời mưa gió... trong một chừng mực nhất định có thể là động lực giúp ta thành những anh hùng vô danh với những hành động nghĩa hiệp giữa đời thường mà lòng tự hào hẳn cũng không kém gì lòng tự hào của những anh hùng được toàn thể xã hội công nhận.

Rồi những cuốn truyện lãng mạn ấy bắc cầu cho tôi đến với Thơ Thơ, Gửi hương cho gió, Lửa thiêng - những thi phẩm trước cách mạng hay còn gọi là “tiền chiến” của bác tôi và bố tôi. Tưởng như có vẻ ngược đời nhưng là sự thật. Và rồi tôi mới vỡ ra rằng, xét theo hoàn cảnh tôi lại là người chậm chân đến với những giá trị tinh thần của những người thân yêu nhất của tôi, vì trong đáy ba lô của bao con người trẻ tuổi trên những nẻo đường chiến tranh có những dòng nắn nót chép thơ tình Xuân Diệu, những Tràng giang, Vạn lý tình, Ngậm ngùi, Áo trắng của Huy Cận. Đến đây thì dẫu trí có non nớt, tôi vẫn khẳng định được rằng cái Văn đoàn ấy một khi đã “tạo” ra những Xuân Diệu, Huy Cận thì không “tiêu cực” như tôi được hiểu bấy lâu nay.

Thế là lần theo hai “chứng nhân - người nhà” ấy tôi đi tìm diện mạo Tự Lực Văn Đoàn trong phạm vi “lịch sử tình yêu” giữa thể chế văn chương này với các thành viên sáng lập và Xuân Diệu, Huy Cận. Để nói rằng lần này thì tôi đến với văn chương, dù dưới khía cạnh sử học, một cách chủ động, hay đúng hơn là có ý thức. Lẽ dĩ nhiên cuộc tình nào cũng không tránh khỏi những bề trầm, những éo le của nó.

Tự Lực Văn Đoàn được sáng lập năm 1933 bởi nhóm làm báo Phong Hóa gồm 7 người: Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo, Thạch Lam, Tú Mỡ, Thế Lữ và Nguyễn Gia Trí, có trụ sở tại 80 Grand-Bouddha (nay là Quán Thánh) Hà Nội. Nhóm này chủ trương “tự sức mình làm ra những sách có giá trị về văn chương chứ không phiên dịch sách nước ngoài để làm giàu thêm văn sản trong nước”, “ca tụng những nét hay, vẻ đẹp của nước nhà mà có tính cách bình dân, khiến cho người khác đem lòng yêu nước một cách bình dân. Không có tính cách trưởng giả quý phái” và nhất là “trọng tự do cá nhân”.

Con số 7 gắn với mục đích văn chương này gợi nhớ tới Pléiade gồm 7 nhà thơ của Pháp thế kỷ thứ XVI do Ronsard và Du Bellay cầm chịch, nhưng Tự Lực Văn Đoàn chỉ được coi là bản sao của Thất tinh Pháp với sự gia nhập của Xuân Diệu. “Và từ đây chúng ta đã có Xuân Diệu”, lời reo vui ấy của Thế Lữ trong tựa Thơ Thơ cũng chính là sự hoan nghênh nhiệt liệt của nhóm Tự Lực dành cho chàng thi sĩ “hiền hậu và say mê” được khám phá bởi chính họ.

Quả vậy, Xuân Diệu ra mắt công chúng với Với bàn tay ấy in trên báo Phong Hóa năm 1935 khi còn là cậu học sinh Lycée (trung học) Khải Định. Và Thế Lữ chính là người có “con mắt xanh” phát hiện ra và hơn thế nữa hết lòng tuyên truyền cho tài nhân ấy.


Từ trái sang: Xuân Diệu, Thế Lữ, Nhất Linh, Khái Hưng (thời Tự Lực Văn Đoàn)
Ảnh: Wikipedia.

Giở lại trang thư của tác giả Nhớ rừng gửi Xuân Diệu từ năm 1936, ta có thể đọc: “Lúc nào nghĩ đến anh, hay nói đến anh trước mặt bạn hữu tôi đều thấy vui vẻ sung sướng như nghĩ đến, nói đến một thứ tài trong trẻo và có hy vọng rất nhiều. Nhiều lần tôi đọc thơ anh cho người khác nghe để giảng dẫn cho họ thấy những tình cảm rất tươi thắm mà chưa nhà thi sĩ Việt Nam nào phô diễn ra được. Tôi tin ở tài anh lắm và lúc nào cũng mong được đọc thơ anh gởi ra”. Như thể “chúa rừng Thơ Mới” thoạt kỳ thủy giờ đã hết phải ngậm ngùi “thời oanh liệt nay còn đâu” vì đã tìm ra được kẻ xứng đáng kế tục mình trong công cuộc chinh phục hoàn toàn chốn “thi lâm”. Rồi “Thấy anh được thưởng giải Nhất về Pháp văn ở Concours Général (Giải toàn Đông Dương mà hai năm sau, 1938, Huy Cận cũng đạt được - CHHV), tôi rất sung sướng, nhưng không lấy gì làm lạ, Xuân Diệu giỏi hơn các bạn học về văn chương là việc dĩ nhiên rồi. Tôi mong sao công việc trước tác của anh sau này cũng rực rỡ như thế”.

Ôi, những tình cảm đẹp đẽ và đầy ánh sáng như thế của bậc đàn anh đối với những người đến sau trong làng văn có còn gặp lại ru! Không chỉ dừng lại đấy, Thế Lữ “chộp” lấy “tài trong trẻo và có hy vọng rất nhiều” ấy để gây thanh thế cho Tự Lực ngay từ khi chàng vừa đỗ Bac (tú tài) vào tháng 6 năm 1937 với lời mời gọi thiết tha: “Anh Xuân Diệu. Anh có thể ra ngay Hà Nội được không? Ra để liệu tìm cách sống ở đây, nghĩa là để lăn lóc vất vả cùng với bạn hữu”. Và dường như để khẳng định cái “nghiệp”, ông tiếp: “Viết bài “kiếm ăn” được ít, nhưng có lẽ đó là thứ công việc hợp với chúng ta hơn”. “Được lời như cởi tấm lòng”, Xuân Diệu từ Huế ra Hà Nội và xắn tay viết cho báo Ngày Nay của Tự Lực và năm sau chính thức “se duyên” cùng Văn Đoàn với tư cách là thành viên thứ 8.

Sự nhiệt tình, cái sốt sắng ấy của Tự Lực đối với Xuân Diệu cũng là tình cảm chung của nhiều nhóm thi nhân cùng thời với thi sĩ họ Ngô, có thể nói trở thành đối tượng “giành giật” của các nhóm đó. Chính Hàn Mặc Tử đã bàn với Chế Lan Viên ngay từ tháng 1 năm 1938 là mời cho bằng được Xuân Diệu để lập một Thi Xã tên là Hoàng Anh Tao Đàn với mục đích “nâng cao trình độ thơ mới và tuyển trạch nhân tài”. Cái Thi Xã ấy của “ba chàng ngự lâm pháo thủ” xứ Bình Định mãi mãi là dự định vì bản thân Chế đã cảm nhận được sự gắn bó của Xuân Diệu với Thất tinh Hà Nội và vì vậy thi sĩ họ Hàn lấy làm “tiếc lắm”.

Cũng cần nhắc lại rằng Tự Lực Văn Đoàn, ngoài các báo Phong Hóa và Ngày Nay (2), còn sở hữu Nhà xuất bản Đời Nay, một nhà xuất bản lấy “tìm tòi những nhà văn có giá trị, khuyến khích họ làm cho nhà văn và tác phẩm được nhiều người biết đến” là phương châm. Vì thế có gì đáng ngạc nhiên Thơ Thơ, Cụm đầu mùa của Xuân Diệu là do Đời Nay ấn hành để trân trọng giới thiệu cùng nhân gian. Thơ, ấy chính là cái gạch nối giữa thi nhân họ Ngô và Tao Đàn và được thể hiện không gì rõ hơn ở ngay chính tiêu đề: Xuân Diệu - Thơ Thơ - Tự Lực Văn Đoàn.

Ngược lại, chẳng có gì là lạ khi Xuân Diệu đề tặng các thành viên của “Gia đình văn chương” của mình những bài thơ khoái cảm nhất của ông: Cảm xúc tặng Thế Lữ, Đây mùa thu tới tặng Nhất Linh, Đi thuyền tặng Khái Hưng, Vô biên tặng Hoàng Đạo, Nhị hồ tặng Thạch Lam, Giới thiệu tặng Tú Mỡ, Đơn sơ tặng Gia Trí. Thế nhưng có người vồ lấy cái tiêu đề ấy, những lời đề tặng ấy để nói Xuân Diệu là người cạn nghĩa cạn tình khi “cạo hẳn” dòng chữ Tự Lực Văn Đoàn trong Thơ Thơ in lần thứ hai và những lời đề tặng Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo trong những ấn phẩm sau này của ông. Thực ra ai nói như vậy không phải là người nghiên cứu đến nơi đến chốn. Vì bên cạnh Tự Lực, Xuân Diệu đã có Huy Cận.

Vốn vô cùng mê say Với bàn tay ấy, Huy Cận thì có thể mừng rỡ được gặp lại thi nhân cùng quê Hà Tĩnh hơn mình hai lớp trong buổi tựu trường Lycée Khải Định (Quốc học cũ) tháng 9 năm 1936. Ngay lập tức hai hồn thơ gắn với nhau như định mệnh để rồi có những dự định riêng mãi mãi. Một trong những dự định ấy là xuất bản các tác phẩm của hai người bằng tiền túi của mình. “Huy Xuân” như một nhà xuất bản đã ra đời như thế vào cuối năm 1939 ngay sau khi Huy Cận vào học Cao đẳng Canh Nông với nguồn tài chính và nhuận bút viết báo của Xuân và học bổng hạn hẹp của Huy. Và sản phẩm đầu tiên của cái “Nhà” ấy lại là Thơ Thơ. Lần tái bản này, quả thực không còn dòng chữ “Tự Lực Văn Đoàn” nữa.

Chúng ta đã biết rằng Đời Nay có thể nói là độc quyền xuất bản các tác phẩm của thành viên Tự Lực. Vì vậy, trước khi thực hiện dự định, đôi bạn Huy-Xuân đã rủ nhau đến gặp Ban trị sự Đời Nay để có được sự thông cảm thì được sự nhũn nhặn trả lời rằng việc các ông tái bản Thơ Thơ ở nơi khác dĩ nhiên là quyền của các ông nhưng trong trường hợp đó đừng để Tự Lực Văn Đoàn vào sách thì lý lẽ đã rõ. Vậy là vẹn cả đôi bề.

Cũng phải nói ngay rằng Thơ Thơ là ấn phẩm duy nhất của “Huy-Xuân” vì hai dự định khác là xuất bản Tây sương ký do Nhượng Tống dịch (đã trả nhuận bút) và tái bản Phấn thông vàng đã không thành, đơn giản là vì ngay sau Tết 1940, Xuân Diệu đã rời Hà Nội vào Mỹ Tho làm Tham tá nhà Đoan (Douanne - tiếng Pháp là quan thuế). Điều đáng nói ở đây là thái độ “làm ngơ” đầy thông cảm của các thành viên còn lại trong nhóm bởi họ quá yêu Xuân Diệu cùng bạn chàng, Huy Cận. Điều đáng chú ý là các thủ lĩnh của Tự Lực Văn Đoàn rất có cảm tình với Huy Cận trước hết là do tài thơ của ông vì khi đăng Chiều xưa, thi phẩm đầu tiên của Huy Cận trên Ngày Nay cùng một khung với bài Cảm xúc của Xuân Diệu trong số Tết năm 1938, họ vẫn chưa biết Xuân Diệu và Huy Cận đã là một đôi bạn tri kỷ. Thực vậy, nhận được bài thơ của Huy Cận từ Huế gửi ra, Xuân Diệu lại không làm cái việc “lăng xê” bạn mình như người đời thường làm bằng cách cầm bài thơ đến gặp Nhất Linh hay Thế Lữ là người phụ trách mục thơ của báo mà lại gửi bằng bưu điện đến.


Xuân Diệu (phải) và Huy Cận (trái).

Vậy là chỉ sau khi Huy Cận đã được “làng” Tự Lực “duyệt” với bài Chiều xưa rồi, nhân đầu năm mới Xuân Diệu mới đưa “người thi sĩ lành như suối nước ngọt, hiền như cái lá xanh” ấy lần đầu tiên ra đất ngàn năm văn vật và cũng là lần đầu thăm đất Bắc, đến 80 Quán Thánh để chào các thành viên của cái Văn đàn “khét tiếng” đấu tranh cho một nền văn chương mới và nhân bản ấy. Đến chào theo đúng nghĩa đen của từ này vì Huy Cận không mang theo bài thơ mới nào hết. Và Huy Cận đã may mắn gặp được tất cả, đặc biệt Nhất Linh và Thế Lữ mà ông đã từng đọc và học rất nhiều. Ngay khi mới gặp chàng Huy, Nhất Linh (tên thật là Nguyễn Tường Tam) hạ ngay: “Bài Chiều xưa của anh hay lắm, rất cổ mà lại rất mới”. Và như để chứng minh cái tâm đắc của mình, Nhất Linh đọc một hơi bài thơ ấy trước sự ngỡ ngàng của tác giả rồi nói ngay rằng Huy Cận cứ gửi thơ ra là Ngày Nay sẽ đăng.

Rõ là một cú “đúp” thành công của thi nhân họ Cù: không những ông được vị thủ lĩnh Tao Đàn hoan nghênh nhiệt liệt mà thơ của mình từ nay không sợ không có “đầu ra”, không nghi ngờ gì nữa, thái độ nể phục ấy của vị chánh chủ khảo Giải thưởng Tự Lực Văn Đoàn có giá trị như vòng nguyệt quế đầu tiên mà Huy Cận được nhận trong đời của mình.

Sau này, khi ở Sài Gòn, Nhất Linh còn khẳng định rằng về lục bát, “Huy Cận là hậu duệ của Nguyễn Du!”. Khái Hưng, Tú Mỡ, Hoàng Đạo, Thạch Lam và Nguyễn Gia Trí cũng chỉ có thể chia sẻ quan điểm của văn nhân họ Nguyễn. Đặc biệt Khái Hưng, cũng như Nhất Linh, rất đề cao thơ Huy Cận, ông còn nói với Nguyễn Hữu Đang lúc đó hoạt động trong hội truyền bá Quốc ngữ “Huy Cận hay từng bài, từng câu từng chữ”. Thế Lữ thì lại trách Xuân Diệu sao không đưa bài thơ ấy trực tiếp cho ông mà lại vòng vèo thế. “Là vì - Xuân Diệu đáp – tôi muốn xem giá trị thực của bài thơ thế nào chứ tự tôi đưa đến e mất khách quan”.

Ngẫm lại, quả thi nhân họ Ngô ngay từ khi còn măng tơ đã là một bậc thầy trong đối nhân xử thế trên căn bản biết mình, biết bạn và biết người. Là kẻ “tri âm”, Xuân Diệu muốn bạn mình “hữu xạ tự nhiên hương”, hay mượn cách nói thời thượng, muốn Tự Lực “tâm phục khẩu phục”. Cái tâm của chàng Xuân dường như đã thấu tới ông trời nên vô tình mà như hữu ý sự “trình làng” của chàng Huy trên Ngày Nay lại được xếp cặp với chàng Xuân. Như thể Tự Lực đã tiên liệu cỗ song mã Huy - Xuân ấy là cách đưa Thơ Mới đến với nhân gian một cách lộng lẫy nhất.

Kỳ vọng của Xuân Diệu nơi Huy Cận đã được đền đáp: Lửa Thiêng đã được Đời Nay cho ra mắt bạn đọc vào năm 1940 với 3000 bản, một số lượng vào loại kỷ lục vào thời đó. Hơn thế nữa, Tự Lực Văn Đoàn đã quyết định kết nạp thi sĩ họ Cù và lịch sử văn chương Việt Nam lẽ ra biết tới thành viên thứ chín của Tao Đàn ấy nếu không có những biến cố chính trị xảy ra gắn liền với cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ II. Sự nuối tiếc của Huy Cận vì đã không kịp trở thành thành viên chính thức của Tự Lực Văn Đoàn không phải đợi đến hôm nay mới được ông thổ lộ với tôi mà đã được bộc lộ từ lâu ở ngay trong dòng chú thích “T.L.V.Đ” do tay ông viết bên cạnh tên mình trong tờ quảng cáo Nhà xuất bản Đời Nay in năm 1941, trong đó, ngoài các thành viên của nhóm và Huy Cận ra còn có Đỗ Đức Thu, Trần Tiêu, Nguyên Hồng, Nguyễn Khắc Mẫn, Đoàn Phú Tứ, Trọng Lang, Anh Thơ (đúng ra là Cô Anh Thơ) Mạnh Phú Tư cùng ảnh chân dung của họ.

Cái “tình cảm gia đình” của Tự Lực dành cho chàng thi sĩ quán sông La ấy có thể cảm nhận rất rõ trong thư của Khái Hưng gửi Xuân Diệu ngay sau khi thi sĩ khăn gói vào Mỹ Tho: “Anh đi Nam, chúng tôi thấy thiếu anh quá. Nói thực đấy, không khách sáo đâu. Nhất những hôm hội họp ở nhà anh Tam (Nhất Linh - CHHV) ai cũng bảo: “Thiếu có Xuân Diệu”. Nhưng có người tiếp luôn: “Đã có Huy Cận ăn hộ cả hai người”. Huy Cận, ai cũng coi như một nửa của linh hồn anh. Rồi chính tác giả của Tiêu Sơn tráng sĩ đã cùng với Nhất Linh, Thạch Lam và họa sĩ Nguyễn Đỗ Cung dẫn Huy Cận đi thăm chùa Tây Phương và chùa Thầy nhằm khẳng định lòng tự hào dân tộc vốn là động lực của Tự Lực Văn Đoàn trong cuộc đấu tranh chống lại chính sách nô lệ của Pháp. Mặt khác cũng rất có thể khi tổ chức những cuộc du ngoạn đó các thành viên của Văn Đoàn muốn thấy một Huy Cận Đường thi chuyển hướng mạnh hơn nữa sang văn hóa của cha ông. Bản thân bố tôi cũng thừa nhận là tứ của các bài Các vị La Hán chùa Tây Phương của ông đã manh nha từ dạo ấy.

Để nói trong thực tế, Huy Cận đã thuộc về Tự Lực Văn Đoàn và cho đến tận hôm nay bố tôi vẫn dùng những lời âu yếm nhất để nói về thực tại đó. Tình thân thiết đã như chân tay thì chỉ còn gượng cười khỏa lấp cái sầu ly biệt. “Bát tiên quá... chén” là cái cười gượng ấy của các thành viên Tự Lực trong giờ phút chia tay với Xuân Diệu vừa được bổ làm Tham tá nhà Đoan tại Mỹ Tho. Trong tay tôi là một tờ giấy gió lụa với hoa văn dập nổi màu ngà rất sang (mà tôi đồ rất sẵn tại Nhà xuất bản Đời Nay vốn tọa lạc cùng trụ sở Tự Lực Văn Đoàn tại 80 Quán Thánh) mang bài thơ được hình thành do Hoàng Đạo, Nhất Linh, Thạch Lam, Huy Cận, Thế Lữ, Tú Mỡ, Khái Hưng, Xuân Diệu (theo thứ tự chữ ký) mỗi người góp một câu:

BÁT TIÊN QUÁ… CHÉN

Bỗng dưng thi sĩ hóa tây Đoan
Nửa mặt nhà văn, nửa mặt quan
Chén rượu tiễn đưa thơ khó nghĩ
Nỗi niềm cách biệt ý khôn toan
Hôm nay nhớ bữa chia bùi ngọt
Lát nữa còn vui cảnh tóp chan
Ví thử anh em đều xuất cả
Còn tuôn ra lắm mạch thơ gàn...

(Hà Nội 2/2/1940)

Và đâu chỉ có Huy Cận không thể quên một thời “chia bùi ngọt” với Tự Lực Văn Đoàn, qua ông, bản thân tôi cũng tiếc nuối cái bầu không khí văn chương lãng mạn và gia đình ấy trong đó tập thể tồn tại cùng riêng tư, trong đó đố kỵ, “bằng mặt mà không bằng lòng” phải khiếp đảm trước triết lý “mình vì mọi người, mọi người vì mình” trong cuộc đấu tranh đầy cam go vì một nền “văn học quốc ngữ”. “Gái có công, chồng không phụ”, công lao gây dựng nền văn học đậm đà bản sắc dân tộc ấy chẳng những được bạn đọc và các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước ghi nhận mà còn được các nhà cách mạng Việt Nam đánh giá rất cao. “Tự Lực Văn Đoàn - cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng khẳng định với Huy Cận - rất có công với Văn học Việt Nam thông qua đổi mới cách viết văn nói riêng và đổi mới nền văn học nước nhà nói chung”.

Vẫn theo Huy Cận, các nhà cách mạng khác như Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp... đều có cùng một nhận định. Mặt khác, tính đến ảnh hưởng sâu rộng cũng như tổ chức chặt chẽ của nó (có tôn chỉ, nguồn tài chính riêng, cấp giấy chứng nhận thành viên, lập giải thưởng, có cơ quan ngôn luận và thậm chí cơ quan xuất bản), tôi cho rằng Tự Lực Văn Đoàn xứng đáng được nhìn nhận như “Hội nhà văn” đầu tiên trong lịch sử văn học Việt Nam hiện đại.

Lùi để tiến, hay như Xuân Diệu nói: “Hy sinh một tiểu đội nhưng để thắng một trận đánh”, bác tôi đành để cơ quan xuất bản có thể nói là “giáo điều” lược bỏ những đề tặng Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo khi làm Tuyển tập Thơ của ông miễn sao Xuân Diệu vẫn tiếp tục hiện diện một cách tích cực trong cuộc đời. Tuy nhiên nếu cho rằng những lược bỏ đề tặng đã nói trên đơn thuần là “chiến thuật”, là một việc làm miễn cưỡng của Xuân Diệu thì cũng không hẳn.

 

Còn nhớ, cả Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo đều tham gia Việt Nam Quốc dân đảng và vì vậy về mặt chính trị là xung khắc và sau Cách mạng tháng 8 là xung đột với một Xuân Diệu trong mặt trận Việt Minh. Trong “Lời giới thiệu” của Tuyển tập, Hoàng Trung Thông viết: “Người ta thường khen anh (XD) dũng cảm đấu tranh với bọn Quốc dân đảng bằng những bài thơ đả kích”.

Quả thật, bên cạnh ngọn Quốc Kỳ ca ngợi nền Dân Chủ Cộng Hòa, Xuân Diệu liên tục “ra đòn” đánh lại cái đám “Việt Quốc” (Việt Nam Quốc dân đảng của Nguyễn Tường Tam), Việt Cách (Việt Nam Cách mạng đồng minh của Nguyễn Hải Thần) bằng những “Tổng bất... đình công”, “Một cuộc biểu tình”, “Vịnh cái cờ”... Không nghi ngờ gì nữa, đây chính là sự khởi đầu của mạch văn “chính trị - quần chúng hóa” của một Xuân Diệu “Tôi cùng xương thịt với nhân dân của tôi/ Cùng đổ mồ hôi, cùng sôi giọt máu/ Tôi sống với cuộc đời chiến đấu/ Của triệu người yêu dấu thân yêu”. Không những thế, ông còn chống lại các đảng phái ấy bằng cả “nắm đấm” theo đúng nghĩa đen của từ này.

Còn nhớ, bác Diệu tôi nhiều khi dùng “quân sự”, tức là dùng “nắm đấm” để giáo dục tôi, không có “oong, đơ” gì hết. Nhưng một bận đang khi dùng “biện pháp mạnh” thì ông cảm thấy không có hiệu quả như trước vì lúc này tôi đang lớn vổng ở tuổi thành niên, lập tức ông hét lên: “Mày đừng tưởng lớn rồi mà tao sợ. Ngày trước tao còn đánh nhau tay không với Quốc dân đảng cơ!”. Lúc đó tôi nào có để ý đến đối tượng mà ông lấy ra so sánh mà chỉ nhói trong tim: đâu phải tôi đã thực sự lớn mà bác tôi đã bắt đầu yếu rồi. Và tôi đã khóc dù không mấy đau.

Chỉ đến mãi sau này khi được những người hoạt động cùng thời kể chuyện Xuân Diệu dừng xe đạp để đánh nhau với một nhóm Việt quốc, Việt cách biểu tình chống Cách mạng ngay trên đường Garnier (nay là Đinh Tiên Hoàng), Hà Nội trong những ngày Tổng khởi nghĩa thì tôi mới thấm thía chất “cách mạng” nơi “nắm đấm” của ông. Kết quả là ông bị nhừ đòn và phải thoát thân vì “tương quan lực lượng” quá chênh lệch. “Con ngựa sắt” mà ông phải bỏ lại lúc đó sau này được một người dân trả lại vì trên biển xe có đề “Xuân Diệu”. Cũng may, theo Huy Cận, Xuân Diệu đã thoát được, nếu không chắc sẽ bị chúng bắt đem về thủ tiêu tại một trong những “Hắc điếm” của chúng ở phố Ôn Như Hầu (nay là Nguyễn Gia Thiều), “bót” Hàng Đậu hay phố Joffrin (nay là Lý Nam Đế)...

Vậy đó, Xuân Diệu không chỉ “giáp lá cà” với phản cách mạng mà ông còn “vùng lên” chống lại mọi biểu hiện tiêu cực ở con người dù đó là sự ngu dốt và lười biếng. “Cách mạng” là thường trực ở nơi ông! Hiểu được như thế thì việc cơ quan xuất bản có lược bỏ đề tặng Nhất Linh - sau này là lãnh tụ Việt quốc - chắc không thật làm phiền lòng Xuân Diệu. Tuy nhiên, Xuân Diệu không cực đoan: bỏ lời đề tặng Nhất Linh là đủ bày tỏ chính kiến của mình và ông giữ lại những lời đề tặng Khái Hưng và Hoàng Đạo, điều này được thể hiện trong bản thảo cho Tuyển Thơ của ông. Thái độ đúng mực này của Xuân Diệu là nhất quán với quan điểm của ông từ 1958 đối với các tác phẩm trước Cách mạng: “Một số tác phẩm đã đạt tới một mức nghệ thuật nào và đã có một khuynh hướng tiến bộ so với hoàn cảnh thời đó, thì vẫn còn lại một giá trị văn học nghệ thuật. Hoàn toàn vứt cả, coi nó là “dưới Zê-rô”, là không có quan điểm lịch sử trong phê bình” (3).

Quan điểm ấy cũng được Huy Cận, người đồng chí của ông suốt cả cuộc đời, chia sẻ. Bản thân thi nhân họ Cù cũng tặng Nhất Linh Áo trắng, tặng Hoàng Đạo Giấc ngủ chiều, tặng Khái Hưng Buồn đêm mưaTràng giang (bài này đề tặng Trần Khánh Giư, tên thật của Khái Hưng) trong thi phẩm Lửa Thiêng. Vậy mà trong Tuyển tập Thơ Huy Cận xuất bản 1985, lời đề tặng ba thành viên trên của Tự Lực cũng không còn.

Tôi có hỏi bố tôi về chuyện này thì không chần chừ ông khẳng định ngay: “Với tư cách là người khởi xướng Tự Lực Văn Đoàn, Nhất Linh rất có công với nền văn học nước nhà. Ông là một đồng nghiệp tốt, thân ái với mọi người. Về mặt chính trị Nguyễn Tường Tam trải qua ba giai đoạn. Giai đoạn đầu là yêu nước theo hướng dân túy (populiste), giai đoạn thứ hai là chọn nhầm con đường cứu nước qua việc dựa vào Nhật để chống Pháp (như cụ Phan Bội Châu), giai đoạn thứ ba là phản động khi dựa vào Tàu Tưởng để chống lại Việt Minh. Như vậy Nguyễn Tường Tam là đối lập chính trị với Xuân Diệu và Huy Cận (4). Thật đáng tiếc, con người yêu nước Nhất Linh đã đi nhầm đường để cuối cùng trở thành phản cách mạng”.

Rồi bố tôi nói thêm rằng ngay tại Đại hội Tân Trào năm 1944 Lê Đức Thọ đã bàn với ông vận động Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo đi với Việt Minh và chính cụ Hồ Chí Minh ngay sau khi Cách mạng thành công cũng nói: “Chú quen biết Nguyễn Trường Tam (Bác đọc nhầm Tường thành Trường) thì chú vận động anh ta đi với Cách mạng, đi với Việt Minh thì tốt”. Nhưng những nhân vật trọng yếu ấy của Việt Nam Quốc dân đảng đã “nguây nguẩy” từ chối vì cho rằng Việt Minh là “độc tài”!? Thậm chí báo Việt Nam do Khái Hưng chủ trương còn “mỉa” rằng nhà thơ Huy Cận ngồi cô đơn ở Bắc Bộ Phủ (lúc đó Huy Cận là Bộ trưởng Canh Nông) để làm cái gì?! Suy cho cùng, có thể nôm na thế này, vợ chồng không hợp nhau thì ly dị miễn những đứa con - tác phẩm phải được nuôi cho đến nơi đến chốn và như đã thấy, Xuân Diệu và Huy Cận đâu bỏ rơi “đứa con tinh thần” nào của mình.

Để kết luận, Huy Cận, người bạn nối khố của Xuân Diệu và đồng nhân chứng của “cái thuở ban đầu lưu luyến ấy” khẳng định với tôi rằng cả Xuân Diệu lẫn ông luôn luôn biết ơn Tự Lực Văn Đoàn vì đã “khai sinh” ra họ trên địa hạt văn chương; văn tài và nhất là cái tâm của Nhất Linh, Khái Hưng cũng như của các thành viên sáng lập đối với sự nghiệp văn học nước nhà trong thời kỳ ấy là không thể phủ nhận. Thậm chí cho đến tận giờ Huy Cận vẫn từ chối khái niệm “tan” khi nói về sự chấm dứt hoạt động của Tự Lực.

“Sau khi Khái Hưng, Hoàng Đạo, Nguyễn Gia Trí bị Pháp bắt vào năm 1941, Nhất Linh lẩn trốn do hoạt động chính trị thân Nhật chống Pháp, Thế Lữ đi lánh - ông giải thích - không kể Xuân Diệu đã vào Mỹ Tho từ đầu năm 1940, Thạch Lam mất năm 1942, Tự Lực Văn Đoàn trong thực tế không còn thành viên hoạt động nữa”. Và Huy Cận có lý do vì “tan” chỉ thích hợp với sự chấm dứt hoạt động bởi những lý do nội tại như mâu thuẫn nội bộ nghiêm trọng hơn, do mâu thuẫn về lý tưởng nghệ thuật. Để nói cái thực thể văn chương này dường như là giời sinh ra để dẫn nhập Thơ Mới với lịch sử văn học nước nhà, vừa kịp định vị “trái đôi” Huy-Xuân ấy trên Thi Đàn thì cũng là lúc nó không tồn tại nữa.


(1)

Xuân Diệu - Bác đi xa cháu, nhớ ghê - Hai đợt sóng, NXB Văn học 1967.

(2)

Cuốn Văn học lãng mạn Việt Nam (1930-1945) - NXB Văn học 2002 (tr.241) cho rằng Ngày Nay kế tục Phong Hóa khi Phong Hóa bị đóng cửa vào 1936. Trong thực tế hai tờ báo song song tồn tại trong một thời gian vì ở “en tête” của giấy viết thư của Tự Lực Văn Đoàn có ghi: Phong Hóa - 80 Avenue Grand-Bouddha (Quán Thánh) và Ngày Nay - 55 Rue des Vermicelles (Hàng Bún).

(3)

Xuân Diệu - Những bước đường tư tưởng của tôi. NXB Văn hóa, 1958.

(4)

Từ 1939, Huy Cận, thành viên Ban lãnh đạo Tổng hội sinh viên (toàn Đông Dương) đã cùng với Dương Đức Hiền, Chủ tịch Tổng hội và là người có quan hệ mật thiết với Đảng Cộng sản, đấu tranh chống khuynh hướng thân Nhật. Năm 1941 Huy Cận tham gia Việt Minh “đánh pháp đuổi Nhật”. Năm 1943, Xuân Diệu tham gia Việt Minh ở Hà Nội ngay sau khi từ chức Tham tá nhà Đoan ở Mỹ Tho.

Bài liên quan: