Trường hợp Phạm Quỳnh

Bạn đọc có thể nghĩ rằng can cớ chi mà Hồn Việt mấy số gần đây lại đăng loạt bài Người cùng thời với Phạm Quỳnh nói về Phạm Quỳnh? Để làm gì giữa lúc có nhiều việc như hiện nay?

Xin thưa: đúng là chuyện chẳng đặng đừng. Vấn đề Phạm Quỳnh không đáng để luận bàn nhiều. Chẳng phải trong lịch sử, chuyện này đã giải quyết rồi sao?

Nhưng… từ sau cuốn sách Giải oan lập một đàn tràng của cái gọi là Ủy ban phục hồi danh dự Phạm Quỳnh, xuất bản ở Hoa Kỳ 2001, thì ở trong nước khơi lên việc đòi “đánh giá lại Phạm Quỳnh” (Bùi Ngọc Long -  báo Thanh Niên, 6/9/2012). Tham gia việc này, từng có các nhà sử học (GS Đinh Xuân Lâm; TS Nguyễn Văn Khoan, nguyên Đại tá công an, tác giả 2 cuốn Phạm Quỳnh - một góc nhìn – NXB Công An Nhân Dân) nhà văn Nguyên Ngọc, Tô Nhuận Vỹ… và dĩ nhiên có con cháu ông Phạm Quỳnh.

Rất nhiều sách Phạm Quỳnh được xuất bản (được dịch và in với những lời ca ngợi “có cánh”). Gần đây nhất, cuốn Hoa đường tùy bút (và 51 bản dịch thơ Đỗ Phủ) đã được in bởi NXB Hội Nhà Văn với lời giới thiệu của Nguyên Ngọc. Đây là giai đoạn sau ngày Nhật đảo chính Pháp ở Đông Dương 9/3/1945, lúc ông “được may mắn dự vào, đóng một vai chính…” (sđd, tr.9). Nhưng rồi sau đó, ông “về vườn”, vì chính phủ Trần Trọng Kim thân Nhật không dùng ông nữa. “Thói đời nóng lạnh, lòng người thắm phai. Ai cũng nói vậy, ai cũng biết thế, nhưng có từng trải mới biết thói đời điên đảo, lòng người xấu xa là dường nào… Dù có lạc quan về thế sự, thấy người đời trở mặt như trở bàn tay, xây lưng như chớp nhoáng, cũng phải sửng sốt mà tự hỏi: “Ôi thói đời đen bạc đến thế ru?...” (sđd, tr.10).

pic
Phạm Quỳnh

Thì có gì đâu là lạ cho cái tâm trạng của một người đang mất quyền lực (Thượng thư bộ Lại, đứng đầu triều); đang nếm trải chút “thế thái nhân tình”! Thế mà nhà văn – nhà bình luận cao hứng gật gù mà cả khen rằng: “Một người như Phạm Quỳnh, vốn sống đầy suy tư, vừa có cái chất nghệ sĩ chết người của cô Kiều, vừa dầu đã quyết (?) về vườn chắc hẳn vẫn chưa hết trách nhiệm với xã hội và nhân quần, sau cuộc lăn lộn lấm lem mấy mươi năm trong vòng danh lợi đắng cay, ắt không thể không có điều muốn nói lại với đời, và trước hết với chính mình…”. Và sau khi trích một đoạn khác về “chỉ buộc chân voi”, ông Nguyên Ngọc hạ bút: “sâu sắc lắm, tha thiết lắm”, “thâm thúy lắm” (sđd, tr.11), “quả đây là một cuốn sách lạ, ngắn vậy, mà cứ muốn đọc đi đọc lại, bởi dầu dở dang, đọc cứ như tác giả đang nói về chính những điều xã hội ta đang phải đương đầu hôm nay” (sđd, tr.12).

Thôi thì, ông Nguyên Ngọc đã thích thú làm vậy thì ta biết vậy. Nhưng chúng tôi cho rằng, mấy đoạn văn này của Phạm Quỳnh chỉ có ông Nguyên Ngọc “tri âm” thì nói vậy thôi, người khác đọc thấy nó chỉ là tâm sự u hoài nhạt phèo của một ông quan mất chức!

Cho đến nỗi “công việc tuyển chọn và dịch thô 51 bài thơ thời thịnh Đường Đỗ Phủ” được ông Phạm Tôn cháu ngoại cho là “người đồng cảnh đồng điệu với ông” (sđd, tr.219). Trời đất! Làm sao “nghèo hèn” Đỗ Phủ lại “đồng cảnh đồng điệu” với cụ Thượng Phạm Quỳnh! Có người trên mạng lại nói dịch Đỗ Phủ là sánh ngầm mình với Đỗ Phủ! Đây là “dịch thô”, thì đã có cái gì ghê gớm lắm đâu.

Nhượng Tống (in 1944) (cùng thời Phạm Quỳnh) dịch thơ ra thơ Đỗ Phủ mấy trăm bài, hay đến nỗi đến nay chưa có ai dám sánh, còn chưa nói làm chi; Phạm Quỳnh tiêu thời giờ dịch phác mấy chục bài, có gì đáng  nói. Không phải là bới móc, nhưng một ông bạn cùng học, cùng đi thi với Phạm tiên sinh, nói rằng ông chỉ giỏi chữ Pháp, chứ chữ Nho thì “dở”, Tây chấm bài cho vớt ¼ điểm để khỏi bị liệt mà lấy đậu (Theo Trường hợp Phạm Quỳnh của Nguyễn Văn Trung - Nam Sơn, Sài Gòn, 1975). Về tạp văn của ông ngoại mình, Phạm Tôn xa gần nhắc đến tạp văn Lỗ Tấn(!), rồi kết luận: “Tiếc là chim bằng đã gãy cánh khi đang dốc sức tàn để bay vút một lần nữa lên bầu trời văn học cao đẹp, mênh mông, bao la bát ngát. Tiếc thay, thương thay một đời tài hoa, kiên cường… một lòng trung với Nước, hiếu với Dân” (sđd, tr.222)!

Đọc câu sau cùng này, một nhà văn, một học giả cao tuổi thốt lên: trung với nước mẹ Đại Pháp thì có!

*
*   *

Đấy, sơ qua cái vấn đề Phạm Quỳnh nó bỗng dưng trở nên “thời sự” là như vậy! Nay, Hồn Việt xin tiếp tục đăng Người đương thời với Phạm Quỳnh và Nam Phong cái đã, còn bình luận để sau (còn có nhiều chuyện, nhất là động cơ sâu xa của việc phiên án Phạm Quỳnh và các nhân vật khác như Hoàng Cao Khải, Phan Thanh Giản, Trương Vĩnh Ký… là gì).

Trước khi mời bạn đọc đọc tiếp, xin nêu một câu hỏi về một chuyện quan trọng:

“Ngay trong Lời nói đầu của tập sách, Giáo sư Đinh Xuân Lâm đã dẫn lại câu nói của Bác Hồ vào tháng 9/1945, khi hay tin Phạm Quỳnh bị xử tử ở Huế Cụ Phạm (tức Phạm Quỳnh) là người của lịch sử, sẽ được lịch sử đánh giá lại sau này’” (báo Thanh Niên, 6/9/2012).

Xin GS Đinh Xuân Lâm làm ơn cho biết xuất xứ câu nói đó của Bác Hồ. Nó được in ở đâu (Hồ Chí Minh toàn tập?) hay ở tư liệu nào, hay là do truyền ngôn bịa đặt. Chúng tôi đã phỏng vấn nhiều nhà nghiên cứu cận đại – hiện đại, họ đều nói không có câu đó, chỉ là bịa đặt, mà sau đó còn “vẽ rắn thêm chân”, còn tự ý thêm thắt vào mỗi người một ý… Nếu bịa đặt ra lời Bác Hồ là có tội, ngoài cái tội không trung thực khoa học khi trích dẫn (xin xem sau đây đoạn ông Đông Tùng, học ở Lớp huấn luyện Quảng Châu 1926, nói ý kiến của Nguyễn Ái Quốc về Phạm Quỳnh, hoàn toàn trái ngược với câu trên đây. Chúng tôi tin chắc rằng, Bác Hồ không bao giờ nói như thế!).

Còn về ý kiến nhà văn Tô Nhuận Vỹ (Huế) chúng tôi cũng sẽ bình luận trong dịp tới, sau khi mời ông đọc các ý kiến sau đây về Phạm Quỳnh, trong đó có ý kiến của các vị nhân sĩ trí thức lớn miền Trung hiểu lịch sử, hiểu thời cuộc, yêu nước, trung thực…