Tết với quê nhà

Với tôi, Tết âm lịch của dân tộc ta là vốn quý và thiêng liêng mà cha ông đã tuyền trao cho con cháu. Phải chăng, chính đời sống nhà nông hàng ngàn năm trong các làng quê đã hun đức nên trong tâm hồn người Việt cái cảm nhận thiêng thiêng ấy?

Dù ngày nay tên các xóm của làng quê tôi có thay đổi trên giấy tờ, kèm theo các con số 1, 2, 3, 4 hay gì gì đó thì tôi và cả những người dân hiện sống nơi làng này vẫn gọi các xóm với các tên mộc mạc mà nghe thân thương như thuở xa xưa ông bà chúng tôi gọi: xóm Trên, xóm Dưới, xóm Chay, xóm Rừng. Trong làng hiện vẫn sừng sững các nhà thờ họ (từ đường) của từng họ, mà bà con mỗi họ tộc đã cố công xây dựng nên thành nơi thờ tất cả tiền nhân từ ông Tiền hiền cho đến ông Cao (cha của ông Cố) của mỗi người trong họ tộc. Nhà thờ họ là “hình ảnh cội nguồn” của mỗi con người. Ngôi đình làng ở ngay đầu phía tây của xóm Chay, được lập nên từ thuở các vị Tiền hiền từ Bắc vào Nam, từng bị phá trong chiến tranh, nay đã được dân làng chung sức xây dựng lại. Ngôi chùa làng ở xóm Trên, phía đối diện nhà tôi, đã bị hoang phế từ lâu qua các cuộc chiến. Tất cả tiền nhân, từ các vị Tiền hiền các họ tộc (nguyên sinh ra ở miền Bắc, thời hậu Lê), cho đến ông bà, cha mẹ và một số anh chị ruột của dân làng đều yên nghỉ trong mồ mả ở làng. Bà con thân tộc hay chòm xóm vẫn sum họp vào những dịp như đám giỗ, đám chạp, cưới hỏi, tang lễ, các dịp lễ, Tết, cúng tế trong nhà thờ họ, đình làng, giúp đỡ nhau trong những cơn bão lụt, hoạn nạn… Làng có những “rộc” - những đám đất làm ruộng lúa ở vùng thấp, “gò” - những đám đất cát trên vùng cao trồng sắn, khoai, thuốc lá…, và trước những năm 50 của thế kỷ trước còn có trồng bông để dệt vải. Cái chợ ngày xưa của làng ở giữa xóm Trên gọi là chợ Vải vì nơi đây đã từng là nơi buôn bán vải cho nhiều thương lái từ các vùng khác tới.

Từng tấc đất của làng đã thấm đẫm mồ hôi, nước mắt và cả máu xương, khổ đau và hạnh phúc của biết bao thế hệ dân làng, qua bao thăng trầm do thiên tai, dịch bệnh, chiến tranh và hòa bình từ thuở các vị Tiền hiền đến khai hoang lập ấp cho đến nay.

Quê hương tôi là gì? Là đất nước Việt Nam? Không sai, nhưng chung chung quá. Là Huế? Nơi tôi đã học tập, giảng dạy, lập gia đình, sinh con và sống hơn một phần tư thế kỷ? Là Sài Gòn - TP.Hồ Chí Minh, nơi tôi cũng giảng dạy và sinh sống từ gần một phần ba thế kỷ nay? Lại càng không đúng với những nơi xa xôi, tôi thường lui tới vài tháng mỗi năm trong nhiều năm nay. Một số nhà thơ, nhạc sĩ minh họa quê hương qua từng hình ảnh rời rạc như: “quê hương là con đò nhỏ”, “quê hương là chùm khế ngọt cho con trèo hái mỗi ngày” v.v… Dù là rời rạc, cụ thể nhưng qua thơ và nhạc, chúng cũng đủ làm rung động lòng người. Nhưng quê hương không chỉ đơn giản như vậy. Quê hương, quê nhà phải chăng là một tổng hợp của một vùng đất với những cơ sở vật chất và nền tảng tâm linh do tiền nhân, ông bà, cha mẹ đã dày công xây dựng nên mà con người sinh ra ở đó mặc nhiên thừa hưởng từ khi lọt lòng cho đến khi trưởng thành?

Với tôi, quê hương, quê nhà chính là cái làng quê của tôi, dù tôi chỉ sống thường xuyên ở đó 12 năm đầu đời và sau đó chỉ trở về vào dịp hè, Tết. Chính ngôi làng quê ấy với cả cái vốn tâm linh mà tổ tiên ông bà, cha mẹ đã trao truyền cho tôi là quê nhà yêu dấu. Thu gọn hơn nữa, quê hương, quê nhà của tôi chính là ngôi nhà của cha mẹ tôi với tất cả tình cảm thiêng liêng tôi thụ hưởng từ đó giúp hình thành nên “con người tôi” và phần sâu thẳm nhất trong tình yêu quê hương suốt cả cuộc đời. Chính nơi đây, tất cả anh chị em chúng tôi được sinh ra, chôn nhau cắt rốn.Trên bộ phản ngựa giữa nhà, cách bàn thờ ông bà phía sau bởi một bức sáo, bốn anh em trai chúng tôi nằm ngủ đêm đêm suốt những năm thơ ấu. Mùa hè nóng nực thì ngủ trần, mùa đông có những lúc mưa lạnh thấu xương, đắp chung nhau một chiếc chiếu. Đắp chiếu thì không thể ấm như đắp mền. Nhưng thời đó, hầu như nhà nào ở thôn quê cũng chưa có mền, chỉ đắp chiếu như cha ông hàng nghìn năm trước, mà vẫn chịu được cái lạnh qua mùa đông. Chính tại nơi đây, bà nội tôi đã trút hơi thở cuối cùng, lúc ấy tôi còn quá nhỏ không nhớ được gì. Cũng chính tại ngôi nhà ấy, tôi và người chị thứ năm đã chứng kiến cảnh cha tôi “hạ thổ” và ra đi sau một thời gian bị bệnh, khi tôi còn nhỏ. Cũng chính nơi nhà ấy, tất cả anh chị em tôi, chứng kiến giây phút lâm chung của mẹ tôi cách đây cũng gần một phần ba thế kỷ. Cũng tại ngôi nhà ấy, chị Hai (chị cả) của tôi mất cách đây chưa đầy một năm. Cũng chính trong ngôi nhà ấy, bốn anh em tôi đã trải qua tuổi thơ cùng bạn bè thôn xóm với biết bao kỷ niệm buồn, vui.Tôi đã trải qua cơ cực, thiếu ăn, bệnh tật trong vài đợt tản cư từ năm 1946 tới năm 1951. Tôi không thể nào quên những biến cố đã xảy ra tại làng tôi trong thời chiến, trong đó có những cảnh vô cùng đau thương tang tóc cho gia đình các bác tôi và bạn bè tôi. Những đau thương tang tóc ngất trời mà dân Việt ta phải chịu qua chiến tranh giành độc lập từ khi quân Pháp đánh phá Đà Nẵng năm 1958 cho tới 30-4-1975, suy cho cùng, cũng bắt nguồn từ việc thực dân phương Tây đến cướp nước ta mà gây ra đó thôi. Nhân quyền nào đâu? Chính nước Pháp và nhiều nước đã ký kết tuyên ngôn quốc tế tôn trọng nhân quyền ngày 10-12-1948 tại Palais de Chaillot ở Paris- Pháp. Nhưng trong cuộc chiến tại nước ta từ 1945 tới 1975, mà Pháp và một số nước trực tiếp tham dự, có ai kể đến “nhân quyền” đâu! Ngày nay, các nước phương Tây hay đem “nhân quyền” ra để “răn đe và dạy dỗ” các dân tộc khác. Nhưng nhìn lại lịch sử nhân loại, toàn bộ các cuộc chiến tranh gây ra để chiếm thuộc địa, quyền lợi kinh tế, truyền đạo, tiêu diệt văn hóa bản địa của nhiều dân tộc từ Á châu, Phi châu, Mỹ châu… kể cả phương thức khống chế thiên hạ hiện nay bằng “cấm vận kinh tế”, “đe dọa dùng vũ lực”… nhân danh “nhân quyền” hay đơn giản vì ỷ mạnh hiếp yếu, muốn bá quyền, muốn bành trướng, thì các nước phương Tây và các cường quốc ngày nay là những kẻ vi phạm nhân quyền nhất! Việc đề cao nhân quyền là tốt, nhưng “nhân quyền” nhiều khi được dùng làm phương tiện để vi phạm nhân quyền đích thực một cách tinh vi hơn!

Nhưng dù trong thời kỳ chiến tranh, Tết vẫn đến! Cũng chính nơi căn nhà ấy, biết bao lần gia đình tôi chuẩn bị đón Tết. Thời tôi còn nhỏ, ở quê tôi, hầu như nhà nào cũng tự làm bánh để dùng trong dịp Tết. Những thứ các chị tôi hay làm là bánh khô mè, bánh in, mứt gừng và bánh tét. Chiều hay tối 30 nhà nào cũng cúng rước ông bà. Đêm nằm đợi giao thừa, bốn anh em tôi vẫn nằm chung trên bộ phản ngựa, đắp chung chiếu, ngủ lơ mơ, nghe thấy mẹ tôi dậy đốt hương đèn cúng giao thừa mà mẹ tôi gọi là cúng “thành khiến”. Rồi tiếng pháo nổ đì đùng quanh lối xóm. Nhà tôi cũng đốt dây pháo, thỉnh thoảng gặp viên pháo tống nổ ầm, mùi thuốc pháo thoang thoảng trong không khí hơi lành lạnh vào khuya. Về sau, chiến tranh lan rộng, pháo bị cấm không cho đốt. Mẹ cúng giao thừa xong, chúng tôi tiếp tục đi ngủ, nhưng dậy sớm vì mẹ nói sáng mùng 1 Tết mà dậy trễ thì cả năm sẽ lười biếng! Sáng mùng 1 Tết, chúng tôi sung sướng được mẹ và mấy chị cho mặc áo quần mới. Ở miền quê thời ấy, có khi quanh năm chỉ mặc áo quần cũ, chỉ Tết mới có áo quần mới! Theo lễ nghi xưa thì 3 ngày tết nhà nào cũng cúng ông bà 3 bữa: sáng, trưa, tối. Nhưng về sau, mẹ tôi cho phép “phiên phiến” chỉ làm cơm cúng 3 lần: rước ông bà vào trưa hay chiều tối ngày 30, làm cơm cúng trưa mùng 1, và làm cơm cúng đưa ông bà vào trưa hay chiều tối mùng 4, còn những buổi khác chỉ đốt hương trên bàn thờ…

Ngoài Tết Nguyên đán, thời thơ ấu của tôi còn có Tết Đoan ngọ (mùng 5 tháng 5 âm lịch). Vào ngày tết mùng 5 ấy, ở làng tôi, nhà nào cũng chặt các thứ lá, cây, chứa trong cái nong để phơi cho khô trong sân nhà, sau đó bằm nhỏ ra để làm trà uống quanh năm! Lũ trẻ chúng tôi háo hức đi tìm bắt thằn lằn vì tin rằng cho thằn lằn bơi qua thau nước trong ngày tết mùng 5, lấy nước ấy rửa mặt thì sẽ được thông minh, sáng láng! Nhưng cũng lạ, là ngày ấy thằn lằn trốn đâu hết, khó tìm bắt được lắm. Thời thơ ấu của tôi, nhà tôi cũng như mọi nhà trong làng đều dùng cối xay lúa, cối giã gạo bằng tay với nong, nia, thúng, sàng, dần… Nhà tôi còn có khung cửi mà các chị tôi dệt vải nghe kêu cót két ngày đêm. Chính tôi lúc nhỏ cùng đã từng phụ giúp việc “tra go”, “dàn sợi”... Nhà tôi cũng là nơi có khoảng chừng 5, 7 người con gái, phụ nữ trong xóm tới “đẩy thuốc” quanh năm. Những thứ ấy đã mất dần vào thập niên 1950 và “tuyệt chủng” trong thập niên 1960. Cho nên ở làng tôi, tôi thuộc thế hệ cuối cùng biết được, thấy được đầy đủ công cụ sản xuất và phương thức sản xuất trong nông nghiệp như cha ông từ hàng nghìn năm trước.Quả là một diễm phúc, vì đó là cầu nối giúp tôi hiểu đời sống của cha ông thuở xưa.

Đấy, tất cả những sự kiện ấy dù là vui, buồn, khổ đau hay hạnh phúc đều kết lại thành “gia tài tâm linh” tôi thừa hưởng từ quê nhà, khiến tôi suốt đời gắn với ngôi nhà cha mẹ, với làng xóm, với quê hương dù tôi ở hoàn cảnh nào, ở chân trời góc bể nào. Trong “gia tài tâm linh” ấy tôi còn một “tâm lệnh” mà tôi vẫn nghiêm cẩn tuân hành: “không ăn thịt ếch”. Nguyên một ông cố bác của tôi là một nghĩa quân Cần Vương, bị giặc Pháp bắn bị thương nặng, nằm lại một mình trong đám lau sậy, tưởng là sẽ chết. Nhưng đêm đến, một bầy ếch bu lại liếm sạch máu các vết thương. Điều lạ là nhờ thế mà vết thương được lành, không cần thuốc men gì cả và ông cố bác tôi thoát chết. Trở về ông kể lại và dặn con cháu từ nay không được ăn thịt ếch nữa, để tỏ lòng biết ơn. Tôi vốn học Toán, không tin các chuyện dị đoan, mê tín, nhưng tôi nghiêm cẩn chấp hành di lệnh của ông cố bác tôi vì tôi cho là lệnh ấy hợp “đạo lý biết ơn”, phát ra từ tâm của một bậc tiền bối đã xả thân cho độc lập Tổ quốc.

Với tôi, Tết âm lịch của dân tộc Việt Nam là “thiêng liêng” bởi Tết là dịp khiến “gia tài tâm linh” ấy trỗi dậy một cách sống động trong tâm trí tôi. Cứ mỗi khi Tết đến thì tôi mong về ngôi nhà cha mẹ ở quê nhà để thăm bà con thân thuộc và để đốt nén hương lên bàn thờ ông bà cha mẹ, tỏ lòng thành kính tri ân tổ tiên, ông bà, cha mẹ và tất cả anh hùng, liệt sĩ đã ngã xuống cho quê hương yên bình, đã cho tôi hình hài, tâm trí và nuôi dưỡng tôi từ thuở lọt lòng cho đến nay. Được như vậy tôi cảm thấy rất ấm lòng.
Một số người sinh ra, lớn lên ở các thành phố, đặc biệt là những người sinh ra nơi này, ở vài năm, rồi theo cha mẹ đi nơi khác vài năm, và lớn lên học tập ở những nơi khác nhau, làm việc nhiều nơi khác nhau thì có thể có cảm nghĩ khác về Tết. Cuộc sống ở thành phố lớn với môi trường thay đổi quá nhanh đã khiến cho có quá ít những thứ đọng lại lâu trong tâm hồn. Hơn nữa, vì quá bận với công việc, họ ít có cơ hội giao tiếp với bà con dòng họ, ít biết về tiền nhân, về cội nguồn của chính bản thân mình. Khó tránh khỏi quy luật “xa mặt, cách lòng” và nhu cầu hiện thực trong môi trường sinh sống ở thành phố lớn khiến họ quen biết, thân thiết với bạn bè, đồng nghiệp hơn là biết và thân với những người trong dòng họ ở quê cha, quê mẹ. Nhiều người trong số họ có thể có đầy đủ nhiều thứ từ tiền tài đến danh vọng, nhưng lại có thể thiếu “một cõi đi về trong tâm tưởng”, không thể biết“quê nhà đích thực là đâu”. Cho nên ngày tết, nếu thuận tiện thì họ thường chỉ đi du lịch đến những nơi hợp với nhu cầu nhất thời mà thôi.

Điều ấy giúp ta hiểu tại sao rất nhiều người Việt được đi học tập và làm việc thành công tại xứ người và rồi chính bản thân họ chứ đừng nói là con cái họ hoàn toàn tan biến vào xã hội người ta, không một âm vọng gì về cố hương. Đừng nói chi người dân thường, chính vua Hàm Nghi, vị vua với phong trào Cần Vương chống thực dân Pháp, được sử sách trang trọng ghi công và vinh danh là yêu nước. Thế mà chỉ sau 5 năm bị thực dân Pháp bắt và đày qua Algérie, vị cựu hoàng đã kết hôn với một phụ nữ Pháp, con gái của người một quan chức lớn của thực dân Pháp (Chánh tòa Thượng thẩm Alger). Hôn lễ được tổ chức tại nhà thờ Saint-Philippe(1). Và từ đó cựu hoàng đã dần dần tan biến vào trong xã hội thượng lưu Pháp (hẳn là thực dân Pháp muốn như thế và cuộc hôn nhân này cũng không nằm ngoài ý đồ ấy của họ). Trong tâm cựu hoàng có lẽ không còn gì về cố hương, về thần dân Việt Nam, về các tiên đế của chính ông, bởi người ta không tìm thấy tài liệu nào cho biết cựu hoàng tưởng nhớ và ước vọng gì về cố hương xứng tầm với một nhà vua yêu nước bị giặc ngoại xâm đày xa Tổ quốc. Ông đã chối từ dạy tiếng Việt cho các con, mà ông dùng thì giờ vào việc nặn tượng, vẽ tranh và thỉnh thoảng đi về Pháp, và giữ im lặng hoàn toàn về số phận của mình(2). Hai bức tranh của ông được nhiều người biết là bức Chiều tà (Déclin du Jour), và Tranh quê. Nhưng “chiều” và “quê” ấy không một chút hơi hướng gì liên quan tới “chiều” và “quê” của cố hương Việt Nam. Cựu hoàng đã vậy, thì tất nhiên trong tâm trí các con của ông, những người Pháp thượng lưu sống trong các lâu đài tráng lệ, không có chút hơi hướng gì về quê cha đất tổ của các vua nhà Nguyễn, dù có mang danh là Công chúa, Hoàng tử.

Ngày nay đang có hơn 3 triệu người Việt ở tại rất nhiều nước trên thế giới. Chỉ khoảng vài chục năm sau, phần lớn chính họ và tất nhiên con cháu họ sẽ lại tan biến vào xã hội xứ người nếu những người con cháu ấy không nói được tiếng Việt, không hiểu biết một mức căn bản về lịch sử, phong tục, tập quán và văn hóa Việt và không về thăm viếng Việt Nam ít ra một lần trong vòng 3-5 năm.

Tôi nghĩ hầu hết những người sinh ra và lớn lên ở miền quê trong khoảng 10-15 năm đầu đời và trong quá trình sinh sống hằng năm đều có liên lạc với những người thân tại quê nhà thì đều có tình cảm sâu đậm với “quê nhà”. Nhà văn Sơn Nam, sinh ra và sống thời thơ ấu ở miền quê vùng U Minh, dù sau này sống ở Sài Gòn-TP.Hồ Chí Minh, nhưng tình quê vẫn bát ngát trong lòng ông:

Mấy độ phong sương qua đường phố

Hạt bụi nghiêng mình nhớ đất quê

Phải chăng, bên cạnh những điều cao siêu như lý tưởng cách mạng này nọ, chính tình yêu quê nhà ấy tạo sức mạnh diệu kỳ giúp dân tộc Việt Nam chiến đấu, chống lại mọi kẻ ngoại xâm dù họ có hùng mạnh và tàn bạo đến đâu, và cuối cùng luôn luôn đánh thắng để giành lại độc lập cho quê hương trong suốt quá trình lịch sử dựng nước và giữ nước cho đến ngày nay.

Với những con người thấm đẫm tình quê nhà thì Tết xa nhà sẽ không vui, dù xung quanh mọi người vui, mọi thứ đều vui. Thi sĩ Nguyễn Bính, nhà thơ lớn, có lẽ là nhà thơ thấm đẫm “tình quê” vào bậc nhất trong các nhà thơ Việt Nam tự cổ chí kim. Năm 1943, ông đón Tết tại Đa Kao - Sài Gòn, xa quê nhà miền Bắc, với tâm trạng:

Xuân đến khắp trời hoa rượu nở

Riêng ta với ngươi buồn vậy thay!

Bởi:

Quê nhà xa lắc xa lơ đó

Ngoảnh lại tha hồ mây trắng bay

(Hành Phương Nam)

Quê nhà ơi, đứa con ra đi từ thuở nhỏ này, “hạt bụi” này, vẫn luôn ngưỡng vọng quay về vào mỗi độ Tết và mùa xuân.

 

_____

(1) Philippe Devillers, Le Mariage du Prince d’Annam. Sách Français et Annamites, partenaires ou ennemis, 1856-1902. NXB Denoël, 2003.

(2) Philippe Devillers, Ham Nghi contexte et histoire. Sách Français et Annamites, partenaires ou ennemis, 1856-1902. NXB Denoël, 2003.