Về cái chết của ông Phạm Quỳnh

LTS: Nhà văn Thái Vũ, tác giả các cuốn tiểu thuyết lịch sử: Cờ nghĩa Ba Đình, Biến động, Huế 1885, Thất thủ kinh đô… vốn là một trong những sĩ quan đầu tiên của Quân Đội Nhân Dân Việt Nam (tốt nghiệp trường Sĩ quan Lục quân Quảng Ngãi). Ông đã có mặt ở Huế vào những ngày Cách mạng Tháng Tám và đã ghi lại một số ý kiến như là một chứng nhân của dòng lịch sử vốn rất phức tạp lúc đó…

…Ở trang 204, trong bài Introduction au Nam Phong 1917-1934 bà Phạm Thị Ngoạn, (con gái thứ 6 kể cả trai lẫn gái) của Thượng Chi Phạm Quỳnh ghi rõ, tôi cứ trích theo bản tiếng Pháp trong toàn tập Bulletin de la Société des Etudes Indochinoises, Nouvelle série, n02 et 3, 2e et 3e trimestre 1973, Tome XVIII: “Khi ở Huế đầu Tháng Tám năm 1945, Mặt trận Việt Minh đang cướp chính quyền trước cả ngày tuyên bố thoái vị Hoàng đế của Bảo Đại và cả ngày tuyên bố Độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Hà Nội, un groupe pénétra en voiture dans la villa Hoa Đường et enleva l’ancien ministre et son gendre Nguyễn Tiến Lãng, C’est le 23 Août 1945, à 14 heures (16ème jour du 7ème mois de l’année At Dau)

Phạm Quỳnh ne revient jamais.

Vâng, đó là lời ghi của bà Phạm Thị Ngoạn: Phạm Quỳnh không bao giờ trở về nữa. Bà ghi rất rõ tháng ngày theo Dương lịch: 23 tháng Tám năm 1945, lúc 14 giờ (tức 2 giờ chiều), (ngày 16 tháng 7 năm Ất Dậu).

Rõ ràng là thế, bà Phạm Thị Ngoạn sinh năm 1922, hẳn Tháng Tám năm 1945 bà đâu còn nhỏ, đã là 23 tuổi và là vợ của Nguyễn Tiến Lãng, Lãng tiếp nhận làm chủ bút tạp chí Nam Phong năm 1934 của bố vợ, hiệu là Hán Thu đồng thời nằm trong Văn phòng báo chí Thống sứ Bắc Kỳ, thuộc Trung tâm Hành chính Bảo hộ - (Administration centrale du Protectorat). Như vậy, ngày 23 tháng 8 năm 1945 là ngày Phạm Quỳnh bị bắt cùng cha con Ngô Đình Khôi. Để rõ hơn, chúng tôi ghi “chú thích 2” của bà Phạm Thị Ngoạn cùng trang 209 ở bài trên của bà: “Hai người, Ngô Đình Khôi và Phạm Quỳnh bị bắt cùng ngày (23/8/1945) bởi những người cầm vũ khí và bí mật bị giữ trong một xưởng ép bỏ hoang”.

Bà Phạm Thị Ngoạn dẫn chứng một đoạn viết của nhà báo Thanh Lãng (trang 459-460) là: “Sau ngày mồng 9 tháng 3 năm 1945, Phạm Quỳnh không tham gia trong chính phủ Trần Trọng Kim, không chạy theo đám thực dân người Pháp, cũng không tham gia đảng phái chính trị nào hay gia nhập Việt Minh. Hơn nữa, người ta thấy ông sống một cuộc sống vô tư… Nếu thực tình Phạm Quỳnh đã là một tên tay sai cho Pháp, hoặc tồi tệ hơn nữa là một gián điệp của Pháp, ông ta sẽ không bị sống cách biệt, đơn độc như thế để rồi cuối cùng dễ dàng rơi vào tay Việt Minh…”.

Chứng minh xong điều đó của nhà báo Thanh Lãng về trường hợp Phạm Quỳnh, bà Ngoạn viết thêm để nhắc lại là: “Ngày đó Phạm Quỳnh được chính quyền (Việt Minh) mời đến dự cuộc họp ở tòa khâm sứ cũ (bản tiếng Pháp của bà Ngoạn: invité à une réunion à l’ancien Résident supérieur…) ngày 23 Tháng Tám năm 1945, vào đầu sáng buổi nghỉ trưa của ông tại biệt thự Hoa Đường ở An Cựu, gần Huế, để bị bắt giam rồi bị giết ít lâu sau đó”.

***

Bài viết đoạn trên của Phạm Thị Ngoạn khá trung thực, chúng tôi dịch đúng ý bà viết, vì có lẽ chính bà đã chứng kiến buổi trưa ngày 23 tháng Tám đó.

Với khởi nghĩa tháng Tám, đây là thời gian và không gian hào hùng của lịch sử cứu nước mấy chục năm qua với bao nhiêu hy sinh, mất mát “đâu chỉ một người dân nô lệ nào”. Thử hỏi nếu không có khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 thì vai trò Phạm Quỳnh đâu chỉ dừng lại ở cương vị Thượng thư bộ Lại và dân tộc Việt Nam ách nô lệ kéo đến bao giờ.

Cách mạng tất nhiên là có đổ máu (cả hai bên) và cách mạng thắng lợi là công lý về Độc lập - Tự do của cả một đất nước chứ đâu chỉ vì một con người… dù có nói rằng Phạm Quỳnh làm chủ bút tạp chí Nam Phong “n’a rien que de la littérature et par la littérature”! và những người thực thi kết án Phạm Quỳnh đâu phải là “aventuriers-voyous communistes” - những kẻ phiêu lưu cộng sản – lưu manh! Vậy họ là ai?

“Hai Bộ trưởng Quốc phòng và tám vị tướng một ngôi trường”. Đó là Bộ trưởng Phan Anh và Bộ trưởng Tạ Quang Bửu! Ngôi trường đó là trường Thanh niên Tiền tuyến ở Huế được thành lập thời chính phủ Trần Trọng Kim, dưới sự chỉ đạo của Bộ trưởng Thanh niên Phan Anh, là cơ sở của Việt Minh cho đến ngày 23/8/1945 khi khởi nghĩa Cách mạng tháng Tám ở Huế thành công. Trường Thanh niên Tiền tuyến là nơi hội tụ những thanh niên trí thức vốn là sinh viên gốc miền Trung từ các trường Đại học ở ngoài Hà Nội trở về, sau ngày 9/3/1945. Họ là một tổ chức nhỏ trong Mặt trận Việt Minh. Họ là ai? Ngoài hai Bộ trưởng vừa nhắc ở trên, họ là Cao Văn Khánh là Phan Hàm, Võ Quang Hồ, Đào Văn Liêu, Nguyễn Thế Lâm, Cao Pha, Đặng Văn Việt, Đoàn Huyên…Lê Tự Đồng trong nhóm Việt Minh Trung bộ, là Lê Khánh Khang, Hồ Văn Điềm…

Thiếu tướng Phan Hàm(*) sau này nguyên là nhà giáo dạy trường Chấn Thanh, Đà Nẵng, lúc đó được Trần Hữu Dực phụ trách Việt Minh Trung bộ, chỉ định làm chủ tịch Thanh niên Tiền tuyến (TNTT).

Ngày 21/8/1945, khi vua Bảo Đại đang được Đại sứ Nhật – Yokohama bảo vệ làm “Quốc trưởng Đại Nam”, đang ngồi ở điện Kiến Trung thì Đặng Văn Việt và Cao Pha vào nội thành hạ cờ “quẻ ly”, treo cờ đỏ sao vàng trên cột cờ kinh thành Huế. Lệnh treo cờ do Phan Hàm phân công.

Ngày 22/8, trước ngày khởi nghĩa, Lê Tự Đồng (Việt Minh Trung bộ) trao lệnh cho Phan Hàm (Việt Minh TNTT) phải đưa những người dễ tạo điều kiện “gây hấn” ra khỏi thành phố Huế, nghĩa là… đối với hai vị họ Phạm và họ Ngô. Chỉ thị: “Đưa họ rời Huế mới được mít-tinh”. Phân công: - Phan Hàm và Võ Quang Hồ đến thăm biệt thự Hoa Đường trên bờ sông An Cựu. Còn Đặng Văn Việt và Đặng Viết Châu lên phía bờ sông gần nhà thờ Phú Cam.

“Nhưng đến hai cửa quan” đó, dù là trí thức vẫn là dân thường vô danh tiểu tốt. Lại phải có súng để đề phòng bất trắc, phản ứng lại của cái gia đình danh tiếng, đầy uy thế và đông con cháu, đầy tớ (người làm) đó. Bởi rằng thời gian đó, dân quanh vùng cho biết “nhà cụ họ Phạm” có một bộ phận lính khố xanh khoảng 20 đến 30 bảo vệ (ăn mặc cả đồ thường). Gia đình cụ họ Ngô ở Phú Cam cũng có một đội bảo vệ như vậy. Hơn nữa, nói là Quân Giải Phóng (gọi theo ngoài Bắc lúc ấy) nhưng anh em TNTT làm gì… có súng. May là anh em gần đây thường tổ chức lừa lính Nhật, cả sĩ quan để “ăn cắp” súng. Sau này, khi bọn Tàu vàng Tưởng Giới Thạch vào thì… mua súng khá rẻ và khá dễ (một tô bún bò đầy thịt là được một “cá”). Vậy là Phan Hàm và Võ Quang Hồ có hai khẩu súng 6 - cỡ 35.

Nhưng chưa xong! Hai “cậu cử tương lai” thường mặc áo “sơmi” quần tây, nay thắng bộ đồ quân sự thì làm sao vô lọt “cửa quan”, nhất là khi các quan đang cảnh giác “dân đen cách mạng làm liều” kiểu thời phá ngục Bastille Đại cách mạng Pháp 1789… thì nguy. Các quan nhỏ như tri huyện, thừa phái hay đến “chầu” quan Thượng, phải đội khăn đóng, bận áo dài đen. Vậy là “hai cậu” phải xoay đủ bộ trong thời gian ngắn (thời đó dễ vô cùng): áo dài đen, khăn đóng, quần trắng. Cùng lúc là cử người đi “do thám”, để biết rõ tình hình và địa thế khuôn viên Villa des Hoa Đường.

Nhà các quan có bảo vệ trên 20 người là đông, nên “bên mình” cũng phải lo… tác chiến. Đã hẹn trước với anh Phan Tử Lăng chỉ huy đồn lính khố xanh (là Việt Minh TNTT) để lo hai xe và mấy anh thanh niên sẽ cùng hướng cầu An Cựu. Trước khi đến nhà cụ Thượng, hai anh cũng đã xin ý kiến của Việt Minh Thuận Hóa là anh Lê Tự Đồng: nếu họ chống cự hay có triệu chứng bỏ chạy thì… bắn. Đến một giờ trưa (tức 13 giờ) nhanh nhẹn và “oai hùng” thẳng tiến. Xe đỗ gần cổng vào, hai vị “thừa phái” ung dung đi vào không ai hỏi gì?

Nhưng có “sự cố”, vì lúc anh Phan Hàm vừa bước xuống xe để đi vào thì Nguyễn Tiến Lãng vừa từ trong nhà đi ra, Nguyễn Tiến Lãng nhỏ người, gầy nhưng rất tinh và khôn (có lẽ vì thấy có hai xe), nên… biết ngay “có chuyện xấu”, quay người bỏ chạy. Anh Phan Hàm bắn, nhưng súng chúc nòng không nổ, Nguyễn Tiến Lãng vội chuồn, còn “ông chỉ huy” Phan Hàm “đút khẩu súng sáu vào túi” (lúc kể, anh Phan cười: Tưởng là hóc đạn, chứ mình đâu biết… bắn).

Nhờ vậy, nên… êm thắm, cụ Thượng họ Phạm không nghi ngờ gì. Anh Võ Quang Hồ lên lầu, thấy cụ đang ngồi trên ghế salông, khẽ chào và đưa giấy của Việt Minh. Cụ đứng lặng rồi cùng đi xuống lầu.

Anh Phan Hàm ở dưới… “khám nhà” cả trên lầu, thấy ở tủ sách nhỏ của con gái Phạm Quỳnh (không biết của cô nào) vàng lá xếp đống trong đó. Niêm phong nhà lầu. Tất cả người nhà cụ Thượng họ Phạm kể cả cụ đều xuống nhà dưới. Đột nhiên, Phạm Quỳnh xin lên lầu cho lấy một “quả trầu” - vì cụ Thượng thường ăn trầu. Thật không ngờ, dưới bàn để toàn vàng…

Bắt xong Phạm Quỳnh, mới họp lính bảo vệ, giải thích và vận động họ, vì chính quyền chưa thuộc về cách mạng. Trong tình thân, tôi hỏi anh Phan Hàm về cả đống vàng đó, có tịch thu không. Anh bảo: “Mình đâu có để ý gì vì lo bắt Phạm Quỳnh, vả lại không quan tâm, thời đó là thế…

Đến trường hợp Tổng đốc Ngô Đình Khôi! Kể về tội thì Ngô Đình Khôi đâu có lớn bằng Phạm Quỳnh, nhưng nguy hiểm hơn Phạm Quỳnh nếu bảo vệ cách mạng. Năm 1945 đó, nhiều người ở Huế vẫn ủng hộ Khôi, cụ thể là một số anh em trong trường TNTT: có tin là đám ủng hộ Khôi sẽ chống lại cách mạng.

Ngay sau đó, anh em TNTT đưa Phạm Quỳnh đến giam ở lao Thừa phủ, có cả Nguyễn Tiến Lãng cũng mới bị bắt. Đó là lệnh của Việt Minh Trung bộ.

Chiều đó, anh em TNTT không phải Việt Minh, chỉ cảm tình, vào khu vực Lục Bộ (sáu bộ Nội các) trong thành lấy tài liệu, giấy tờ giao cho chính quyền cách mạng…

Mít-tinh mừng khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám thành công tốt đẹp. Ở Huế người là người và cờ đỏ sao vàng phấp phới khắp mọi nơi.

Song dư âm về chuyện có một số người dự định chống lại cách mạng, chống lại chính quyền mới còn phảng phất vì Bảo Đại vẫn còn ngồi trong điện Kiến Trung. Đó là điều tất yếu với những cuộc cách mạng thay đổi chính quyền, dù ở bất cứ nước nào, xưa và nay.

Tối đó, tôi được Trần Hữu Dực cho theo xe con của chú Tài bên Tài chính ra Vinh. Trời rét nhẹ, mưa phùn khi xe đến phà Sông Gianh, có tấm biển báo rõ to chữ Bac (tiếng Pháp, có nghĩa là bến phà).

Còn ở Huế?

Tối đó, anh Phan Hàm bảo với anh Nguyễn Thế Lâm là ngay đêm phải “giải” hai cụ ra khỏi thành phố, nghĩa là cả Phạm Quỳnh, Ngô Đình Khôi (có Ngô Đình Huân). Anh Nguyễn Trung Lập, TNTT, đi theo xe. Anh Lập lúc đó không phải trong nhóm Việt Minh trường TNTT. Dặn dò thế nào không rõ, vì cũng là mới khởi nghĩa cách mạng thành công ở Huế nên anh Lập nôn nóng trở về. Xe ra đến Hiền Sĩ, cách Huế chừng 20 km, cũng không xa giáp ranh tỉnh Quảng Trị. Đây là vùng cây cối um tùm, nhất là thuở đó, nhà dân thưa thớt, cách quãng. Năm 1980-1986, tôi qua lại nhiều lần vẫn thấy cây hoang dại khá rậm rạp. Khởi nghĩa mới thành công, ai lại không vui, vậy là anh Lập “giam tạm” mấy người trong một gian nhà bỏ trống, nhờ mấy “dân quân tự vệ” cũng mới vào đoàn trông coi rồi… theo xe về Huế ngay…

Lịch sử có những chuyện “gặp gỡ” khá kỳ lạ là hôm sau mấy tên biệt kích Pháp nhảy dù xuống Hiền Sĩ, vì như vừa nói, ngoài Hiền Sĩ có đất trống, cây dại cao thấp mọc rậm rịt như rừng, bọn chúng đâu biết là Pháp -Nhật đã bị chính quyền cách mạng… xoá sổ.

Và cũng tình cờ làm sao, khi mấy tên biệt kích nhảy dù an toàn, đang đi… về Huế, bị dân quân chặn lại, bắt giam để báo về Huế với đầy đủ vũ khí hiện đại, thức ăn nước uống, lại nhốt sát bên cạnh nhà giam Phạm Quỳnh, Ngô Đình Khôi. Dân quân địa phương không biết gì đã đành, báo cáo về Huế mấy vị lãnh đạo mới nắm chính quyền sốt dẻo lại không chú ý gì vì đang bận chúi mũi bao việc tày trời mới được đảm nhận.

Việc “bỏ quên” đó thật tai hại, vì nơi giam các cụ và 6 biệt kích dù chỉ cách… 1 hàng rào!

Anh em TNTT đã “hốt” thực sự. Anh Phan Hàm kể: “Tin đó làm anh em TNTT hốt, vội đi xe có đầy đủ vũ khí ra gấp Hiền Sĩ, vừa đi vừa bàn kế hoạch”.

Ba TNTT được Phan Hàm phái theo, trong đó có anh Lê Thiệu Huy (con cụ Giải Nguyên Lê Thước, tuy nhà ở Đức Thọ, Hà Tĩnh vẫn vô Huế tham gia TNTT bảo vệ cách mạng). Anh Lê Thiệu Huy giỏi cả tiếng Pháp và tiếng Anh. Đến nơi bí mật tiếp cận hàng rào, anh Lâm Quang Minh nấp, kê súng lên vai anh bạn sẵn sàng như đã bàn là “nếu chúng trở chứng thì đánh”. Lúc ấy, hai biệt kích Pháp ngồi ngoài hiên, bọn còn lại ở trong nhà. Lê Thiệu Huy gọi và ra hiệu nói chuyện. Hai tên ở ngoài hiên vội chạy vào nhà. Tên Castella, thiếu tá chỉ huy ra nói chuyện, hỏi ngay: “Phạm Quỳnh ở đâu?”

Rõ ràng là chúng nhảy dù có chủ đích nhưng không biết là Phạm Quỳnh ở ngay nhà bên cạnh. Lê Thiệu Huy nói: “Tôi được chỉ thị của Chính phủ tôi là bắt giữ các anh lại!”. Tên Castella vặn: “Chính phủ nào?”. Đáp ngay: “Chính phủ lâm thời!”. Castella nói xấc: “Quel drôle de gouvernement!”. Các anh rạo rịch tay súng, nhưng Lê Thiệu Huy vẫn bình tĩnh: “Chính phủ là thiêng liêng, dù là Chính phủ lâm thời…”. Nhưng anh em đã ào xông vào… Bọn Pháp sợ vì lúc ấy dân quanh đó và dân quân đến, thấy đông, chúng xin hàng ngay. Tịch thu súng, mọi thứ tịch thu hết. Lúc anh em về lại Huế, báo cáo cấp trên là tùy lãnh đạo, ngoài ra không biết gì.

Vì vậy, sau đó anh em TNTT cách ly bọn biệt kích Pháp, đưa xuống Sịa, còn đám hai cụ thì giao cho dân quân địa phương xử lý, chứ không phải Việt Minh Trung bộ (tức chính quyền mới thành lập).

Sự thật quá rõ ràng, vì ngày 23/8, sau khi tuyên bố Chính quyền Cách mạng được thành lập, chỉ mới vừa đúng 1 ngày, người ta đang lo bao việc lớn, khi quân Nhật đầu hàng còn “bảo vệ các cơ sở” để bàn giao cho quân Tưởng vào giải giáp, lại có tin quân Pháp theo quân Anh đang có âm mưu chiếm lại Sài Gòn, đánh chiếm Việt Nam.

Cũng là lúc Bảo Đại còn đó, đang ngồi ở điện Kiến Trung, mọi việc đều cấp bách thì cái chuyện giải hai cụ ra xa thành phố cũng chỉ là việc nhỏ, tránh những người chống đối quấy phá. Mà lúc ấy trong dân chúng, buổi đầu cách mạng, cũng là trong ngày đầu chính quyền mới do dân làm chủ thì mấy tiếng Việt gian, diệt Việt gian kèm theo hành động lan truyền… khắp mọi nơi, nhất là đối với những người có “thành tích” thân Pháp. Mà hai cụ Phạm và Ngô nhất là cụ Phạm, phải kể từ năm 1917 với chiêu bài đăng ngay trong bìa báo Nam Phong: “Rồng Nam phun bạc! Đánh đổ Đức tặc” và việc dồn bắt dân Việt Nam sang làm bia đỡ đạn cho “mẫu quốc” thì quá rõ ràng. Có tội với dân, nên làm sao tránh trong dân lúc ấy chỉ mới hưởng một ngày đầu chính quyền Cách mạng, rất căm thù bọn thống trị Pháp, có hành động manh động như vậy. Đó hẳn là “nỗi uẩn khúc” cuối cùng của ông chủ báo Nam Phong…


(*)

Phan Hàm, Thiếu tướng, Cục trưởng Cục Tác Chiến, tác giả “Cuộc đối đầu lịch sử”. (H.V)


Bài liên quan: