Vì sao chúng ta đọc tiểu thuyết?

Trong các loại sách có lẽ tiểu thuyết là được mọi người biết đến nhiều hơn cả. Ở Việt Nam thì chưa rõ như thế nào chớ bên Pháp các nhà chuyên môn đã mở những cuộc thăm dò để thấy rằng mỗi năm số tiểu thuyết bán ra nhiều gấp sáu lần so với số bán của những loại sách khác.

Tiểu thuyết là những quyển sách không có tham vọng đạt đến một cái gì có tính cách khách quan hoặc khám phá được một cái gì đáng gọi là chân lý. Muốn đọc nó phải mất nhiều giờ, nhiều ngày, có khi nhiều tuần lễ. Và như thế để thu thập được những gì?

Có những kết quả ra sao? Có tương xứng với công sức đã bỏ ra không? Chúng ta định tìm gì khi đọc một quyển tiểu thuyết? Có phải định tìm những thứ không tìm thấy trong những quyển sách chuyên về lý thuyết hoặc chuyên về những vấn đề thực dụng, không tìm thấy trong phim ảnh, trong những màn trình diễn ca nhạc, trên những phương tiện truyền thông khác?

Nhưng trước hết chúng ta hãy thử hỏi xem tiểu thuyết là gì? Trong những quyển tiểu thuyết người ta thường nhắc đến những đề tài nào? Cùng mang tên là tiểu thuyết nhưng nó lại chia thành nhiều loại: có tiểu thuyết luận đề, có tiểu thuyết hiện thực, có tiểu thuyết trinh thám, có tiểu thuyết feuilleton(1), có tiểu thuyết dưới dạng những lá thư, có tiểu thuyết ba xu, có tiểu thuyết dành cho riêng cho phụ nữ, cho những độc giả thiếu nhi, có tiểu thuyết võ hiệp mà mọi người quen gọi là truyện chưởng.

pic
Don Quichotte của Miguel de Cervantes

Từ Công chúa De Clèves của Madame de La Fayette  đến Khói lam cuộc tình của Quỳnh Dao, từ Don Quichotte của Miguel de Cervantes đến Đi tìm thời gian đã mất của  Marcel Proust, từ Ba chàng ngự lâm pháo thủ của Alexandre Dumas đến Tiếu ngạo giang hồ của Kim Dung.

Những nhà khảo cứu văn học thường có khuynh hướng không xếp các thể loại truyện ngụ ngôn, truyện cổ tích, truyện kể, truyện ngắn và hồi ký vào thể loại tiểu thuyết tuy đôi khi có một số người trong bọn họ bằng lòng dán nhãn tiểu thuyết cho những dạng kể truyện khá mới mẻ mà chúng ta vẫn thấy xuất hiện trên Internet và trên điện thoại di động. Những cách xếp loại như thế thường gây tranh cãi.

Ngày trước chính Guy de Maupassant cũng không thích trông thấy các nhà phê bình phân biệt như thế này là tiểu thuyết còn như thế kia thì không phải là tiểu thuyết(2). Bởi tiểu thuyết là một thể loại có nhiều mặt, thay hình đổi dạng không ngừng. Dù cho nó có chuyển tải những tri thức gì chăng nữa, có tham vọng đưa ra những lý thuyết gì chăng nữa, bao giờ nó cũng vẫn bị xem là loại văn kém tính chất khoa học. Tiểu thuyết không trình bày được những sự việc cụ thể, không khám phá được những ý niệm, không quy nạp được những ý tưởng.

Trong khi khoa học tỏ ra chính xác, rạch ròi thì tiểu thuyết lại đầy rẫy những cái bất ngờ, những cái không lường trước được. Trong tiểu thuyết không hề có cái phổ quát, cái có thể dựng lên thành ý niệm mà chỉ có cái bất thường, cái thoáng chốc, cái phù du, cái nhỏ bé, cái nhục cảm, cái gặp gỡ tình cờ, cái thổn thức của con tim, cái sôi nổi dữ dội của đam mê, của tình cảm, của một sự lời qua tiếng lại. Chính vì vậy mà người ta thường xem sự đọc tiểu thuyết là một công việc có tính cách giải trí tiêu sầu chớ không phải là một sự tìm kiếm thêm tri thức.

Nhà mỹ học Ronald Shusterman có nói: “Lĩnh vực thật sự của tri thức là khoa học còn tiểu thuyết hư cấu thì không bao giờ có thể là tri thức được”(3).

Tuy nhiên cũng có nhiều người khác vẫn khẳng định cái sức mạnh khám phá và cái khả năng nhận biết của văn chương. Đọc tiểu thuyết là để tìm hiểu về con người, về cái thế giới quanh ta, về cuộc sống. Nhà lý luận văn học người Pháp gốc Bulgaria Tzvetan Todorov đã nhắc cho chúng ta nhớ: “Văn học là ngành đứng đầu các ngành khoa học nhân văn”.

Những cây bút lý luận nổi tiếng như Gérard Genette, Jean-Marie Schaeffer, Rainer Rochlitz nhìn nhận là tiểu thuyết đã góp phần mở rộng tầm hiểu biết của chúng ta. Các sử gia có thể tìm thấy trong văn chương những “sự thật lịch sử” không ai ngờ. Ngay đến những ngành khoa học tri thức cũng đã bắt đầu can thiệp vào địa hạt văn chương chữ nghĩa bằng cách áp dụng những gì đã biết về cách vận hành của bộ não để đề nghị một đường lối phê bình văn học mới(4).

pic

Trong bầu không khí tranh cãi sôi động ấy vẫn còn một câu hỏi đang gây lúng túng và chia rẽ các nhà văn học, các nhà xã hội học, các nhà nghiên cứu lịch sử và các nhà thuộc những bộ môn khoa học tri thức. Tiểu thuyết sẽ có thể mang lại cho chúng ta một loại tri thức như thế nào?

Chúng ta đã thấy là tiểu thuyết có thể tạo dựng lại một không gian lịch sử, giải mã những ẩn số về những quan hệ trong xã hội, giúp chúng ta hiểu một cách tường tận tâm lý con người. Nhưng những việc này đều là những việc không có gì là đặc thù, mới mẻ, toàn là những việc mà phim ảnh, mà các ngành khoa học tri thức, mà các nhà viết tiểu luận đều làm được cả. Do vậy chúng ta cần phân biệt cái nội dung tri thức với cái phần hư cấu tưởng tượng chứa đựng trong tiểu thuyết.

Nếu chúng ta chỉ xem Jules Verne như một người có công phổ thông hóa các ngành khoa học của thời đại ông cho mọi người cùng biết thì vô tình chúng ta bỏ qua không xét đến những lý do đã khiến những độc giả của ông thuộc lứa tuổi thiếu niên lúc nào cũng say mê theo dõi những giấc mơ viễn tưởng đi kèm với ý chí sức mạnh và tư tưởng yếm thế của thuyền trưởng Nemo trong Hai vạn dặm dưới đáy biển (1870).

Cũng như Người xa lạ (1942) của Albert Camus, trên một vài phương diện, là một tác phẩm tổng hợp những đề tài lớn của triết lý hiện sinh: sự cô đơn, cái chết, sự có mặt của người khác (l’altérité), cái phi lý của cuộc đời.

Đúng như Roland Barthes đã nhận xét: “Cái điều làm cho Người xa lạ được xem như là một tác phẩm văn chương chớ không phải như là một luận đề triết học nằm ở chỗ con người trong tác phẩm không chỉ có một ý thức luân lý mà lại còn có cả một thứ tính khí đặc thù của riêng mình”.

Chúng ta có thể nhận xét giống hệt như thế về mấy quyển tiểu thuyết mới đây của nhà văn Pháp Michel Houellebecq(5) nói về tâm lý ái tình hoặc về lối du lịch tập thể (như trong tác phẩm Lanzarote). Câu chuyện trong tác phẩm không có gì lạ lắm, cái đáng chú ý chỉ là cái không khí chưa từng có mà chúng ta bắt gặp trong đó mà thôi.

Cái không khí của một mảng đời thường nhật được phơi bày trên giấy trắng mực đen hoặc cái tính khí của một nhân vật do tác giả bịa đặt hoàn toàn. Tự nhiên chúng ta lập tức cảm thấy là những dòng chữ của tác giả đang nói lên một cái gì khá kỳ lạ về thời đại của chúng ta hoặc về chính chúng ta.

Và do lời văn là một hỗn hợp làm bằng những giấc mơ và những chữ chớ không phải làm bằng những sự việc và những ý tưởng nên tiểu thuyết trong cùng một lúc đã làm cho cái khả năng ngôn ngữ của chúng ta được phong phú hơn và giúp chúng ta nắm bắt thực tại dễ dàng. Tiểu thuyết phá vỡ các ý niệm căn bản đã có sẵn để tìm hiểu thực chất của con người và của xã hội.

pic

Tiểu thuyết còn có thể có một vai trò giáo dục, còn có khả năng chỉ ra những cái mà triết học muốn chứng minh nhưng không chứng minh được. Bí quyết của nhà tiểu thuyết là nhìn rõ được thế giới chung quanh, bí quyết của người đọc tiểu thuyết là mượn đôi mắt của nhà tiểu thuyết để nhìn rõ cái thế giới chung quanh ấy.

Chính vì vậy mà khi đọc tiểu thuyết chúng ta có thể lần lượt đóng vai một thám tử, một cô gái đang yêu, một nhà độc tài, một đứa trẻ mồ côi. Qua sự ủy nhiệm của tiểu thuyết chúng ta được sống những cuộc đời ủy nhiệm.

Tiểu thuyết là một cái máy nhân rộng những kinh nghiệm ở đời, cho phép chúng ta tiếp xúc với những tình huống phức tạp trong cuộc đời của chính chúng ta và trong cuộc đời của nhiều người khác. Như thế có nghĩa là người đọc tiểu thuyết sẽ được trải nghiệm những hoàn cảnh, những tình huống mà trong thực tế anh ta không được sống qua.

Anh ta lại còn có thể chọn những hoàn cảnh, những tình huống này, từ khước những hoàn cảnh, những tình huống khác và được trải nghiệm những thứ đã chọn mà không sợ phải gặp bất cứ một sự nguy hiểm thực sự nào.

Một điều thú vị lạ lùng nữa của tiểu thuyết là chức năng thần giao cách cảm. Khi đọc một cuốn truyện người đọc nào cũng ngạc nhiên nhận thấy mình thầm có trong đầu những ý tưởng không phải là của chính mình.

Chẳng hạn khi đọc quyển Hồi ký của Hadrien của nữ văn sĩ Marguerite Yourcenar tôi bỗng bắt gặp tôi đang thủ vai của nhân vật xưng “tôi” trong truyện. Tôi bị đẩy vào trong đầu của một vị hoàng đế La Mã đang ở vào cái tuổi chiều tà xế bóng.

Hiện tượng thâm nhập vào một người khác cắt nghĩa tại sao người đọc, trong nhiều trường hợp, lại cảm thấy thân thiết một cách lạ lùng với nhân vật trong tiểu thuyết và xem nhân vật ấy là cái bóng phản chiếu trong gương của chính mình.

Ngày xưa, đọc Tuyết Hồng lệ sử của Từ Trẩm Á nhiều chàng thanh niên Hà Nội cứ tưởng mình chính là nhân vật Mộng Hà (Mộng Hà ơi hỡi Mộng Hà/ Nam nhi mà chịu thế này a?). Chúng ta cảm thấy nhân vật ấy đang sống, đang nói, đang cười, đang khóc trong chính chúng ta.

Từ chỗ hoàn toàn “lý trí” công việc đọc dễ chuyển sang chỗ hoàn toàn “tình cảm”. Tiểu thuyết đánh động “khối óc” mà cũng đánh động cả “con tim”. Tiểu thuyết gây ra nhiều cảm xúc, nhiều thích thú cho người đọc, giúp người đọc làm những cuộc “viễn du” trong tưởng tượng. Phần đông những độc giả của các loại tiểu thuyết đều thú nhận là họ đọc tiểu thuyết trước hết để giải khuây, để thả hồn đến những chân trời mơ ước hơn là để tiếp nhận thêm tri thức hoặc để suy nghĩ về một vấn đề gì.

pic

Càng ngày càng có thêm những nhà lý luận văn học đề nghị đưa trả nhân vật tiểu thuyết trở về vị trí trung tâm của tiến trình giao lưu và hòa nhập văn học. Nhà lý luận Vincent Jouve trong cuốn L’Effet - Personnage dans le roman (Hiệu ứng nhân vật trong tiểu thuyết) cho rằng cái hiện tượng người đọc tiểu thuyết cảm thấy mình nhập làm một với nhân vật tiểu thuyết là nền tảng căn bản của những xúc cảm của chúng ta khi đọc một tác phẩm văn chương.

Ông viết: “Bởi vì có một sợi dây tình cảm buộc chặt chúng ta vào nhân vật Lucien de Rubempré khi chúng ta đọc Ảo vọng(6) nên chúng ta quan tâm đến những lý do “tâm lý và xã hội” đã đưa nhân vật này đến cái chết.

Bởi vì những nhân vật của Proust có lúc tỏ ra quyến rũ, có lúc tỏ ra khó thương, có lúc tỏ ra vui tươi nhí nhảnh nên chúng ta thích thú đi sâu vào cái thế giới của Đi tìm thời gian đã mất(7) để cùng lúc phải chấp nhận những quan điểm về cuộc đời, về nghệ thuật lúc nào cũng thấp thoáng đây đó trong tác phẩm”.

Chúng ta có thể đi xa hơn nữa và khẳng định rằng những xúc cảm và những giấc mơ mà chúng ta có trong khi đọc một quyển tiểu thuyết sẽ có một tác động rất lớn không những đến sự chúng ta suy diễn về ý nghĩa của quyển tiểu thuyết mà còn ảnh hưởng không ít đến đời sống của chính chúng ta.

Người đọc không nhất thiết phải có những hành động giống hệt những hành động của những nhân vật trong tiểu thuyết (yêu văn của Sade(8) không nhất thiết phải trở thành “sađích” cũng như tìm hiểu, nghiên cứu về Quân vương không nhất thiết phải tôn sùng chủ nghĩa của Machiavel). Nhưng khi thích một quyển tiểu thuyết nào đó người đọc có thể vô tình hoặc vô ý thức “bê nguyên xi” vào cuộc sống của chính anh ta cái tính khí, cái thói quen, cái tật của nhân vật mà anh ta đã nhập vào.

Quyển Những đau khổ của chàng Werther trẻ tuổi (1774) của Goethe đã khiến nhiều chàng trai mới lớn ở Đức hồi ấy đua nhau tự tử. Tác phẩm Nàng Hélo¿se (1761) của Jean-Jacques Rousseau đã làm thay đổi sự cân bằng tình cảm của nhiều thế hệ người Pháp.

Như vậy thì chúng ta tìm gì trong cuộc thử nghiệm có vẻ không mấy an toàn này? Chúng ta sẽ gặp những rủi ro gì? Để trả lời, chúng ta hãy trở lại với một nhận xét trước đây: “Tiểu thuyết là một thể loại có nhiều mặt, thay hình đổi dạng không ngừng”. Rủi ro hay không là tùy ở quyển tiểu thuyết mà chúng ta chọn đọc. Cái khôn khéo của những tiểu thuyết best-seller (sách bán chạy) là đưa ra những nhân vật có những nét “y chang” với chúng ta.

Những giá trị mà những nhân vật ấy trân trọng giữ gìn chính là những giá trị mà chúng ta cũng trân trọng giữ gìn. Những đam mê của những nhân vật ấy chính là những đam mê của chúng ta. Những gì mà những nhân vật ấy tin tưởng và mong đợi chính là những cái mà chúng ta đang tin tưởng và mong đợi. Đây là một hiện tượng mà ngành tâm lý xã hội không lạ lùng gì.

Tôi yên tâm vì thấy người kia giống hệt tôi, cũng có những hoàn cảnh như tôi. Một nhân vật tiểu thuyết như thế sẽ giúp tôi cảm thấy được che chở, được an toàn và tôi sẽ rất thích nhân vật ấy. Nhưng ngược lại, cũng có những quyển tiểu thuyết làm khác hẳn, đưa ra những nhân vật hoàn toàn là “người khác” đối với tôi. Đó là trường hợp của Anh khờ (1868) của Fédor Dostoievski, của Lolita (1955) của Vladimir Nabokov hoặc mới đây hơn, trường hợp của Những kẻ thiện tâm của Jonathan Littell.

Với những quyển này người đọc chỉ còn gặp những nhân vật đáng sợ làm anh ta không yên tâm, nhưng bù lại anh ta được nhìn thấy phần chìm trong bóng tối của cái tôi của nhân vật và cái phần chìm ấy có thể là phần chìm trong bóng tối của cái tôi của chính anh ta. Như vậy là có những quyển tiểu thuyết mà người đọc thấy thích thú vì tìm được trong đó một sự khẳng định mình và cũng có những quyển tiểu thuyết mà khi đọc người đọc cảm thấy e dè, hồi hộp vì có thể sẽ phải đối mặt với chính mình nghĩa là sẽ bắt gặp cái tôi chìm trong bóng tối của chính mình.

Với quan điểm này, đọc sách không chỉ là hàn huyên tâm sự với những tác giả lớn của thời xưa và thời nay như người ta vẫn nói mà còn là một sự thử nghiệm về mặt tinh thần, một sự tiếp nhận những ngôn ngữ khác, những thế giới khác, những xã hội khác, những con người khác.

___________

(1)Tiểu thuyết đăng dần từng kỳ
(2)Guy de Maupassant: Thế nào là tiểu thuyết (lời tựa cho tiểu thuyết Pierre et Jean)
(3)Ronald Shusterman: Đọc có nghĩa là làm: giá trị phi tri thức của tiểu thuyết hư cấu.
(4)Rémi Sussan: Các ngành khoa học tri thức: tiến đến một đường lối phê bình văn học mới
(5)
Michel Houellebecq đang là một nhà văn được gọi là đứa con bất trị của văn học Pháp. Ông là tác giả của nhiều quyển tiểu thuyết rất ăn khách như Mở rộng phạm vi tranh đấu, Hạt cơ bản, Bản đồ và vùng đất (đây là cuốn sách đang làm dấy lên một vụ tai tiếng về dịch thuật ở Việt Nam)
(6)Tiểu thuyết của Honoré de Balzac
(7)
Tiểu thuyết của nhà văn Pháp Marcel Proust, một trong những tác phẩm quan trọng của văn học thế giới trong thế kỷ 20.
(8)
Sade còn gọi là Marquis de Sade (Hầu tước de Sade) tên thật là Donatien-Alphonse-François de Sade, tác giả nhiều quyển dâm thư nổi tiếng. Chữ sađích do tên ông mà ra (sadisme: bạo dâm)