Về thơ Bùi Giáng*

Trong thơ Việt có một hiện tượng độc đáo và không dễ dàng cho những ai muốn tìm hiểu, tất nhiên, ngôn ngữ thơ là đối tượng phải chú ý đến trước tiên: thơ Bùi Giáng. Thơ Bùi Giáng kết hợp cả hai trạng thái: tỉnh và điên, hai tính cách: tài hoa và mê cuồng. Ông từng là bệnh nhân của bệnh viện Biên Hòa. Vậy có bệnh lý về tâm thần, mất năng lực tự chủ và năng lực kiềm chế hành vi thể hiện trong những cử chỉ ứng xử hàng ngày và rối loạn tư duy ngôn ngữ khi hình thành văn bản. Từ văn bản thơ Bùi Giáng, chúng ta nên/phải phân thành hai: Những bài thơ, câu thơ tuyệt bút, ngôn ngữ phóng túng, tài hoa; những bài thơ, câu thơ mê cuồng, điên đảo, ngôn ngữ rối loạn, đúng hơn là siêu ngôn ngữ.

Ở dạng thứ nhất, tiếng Việt trong sáng, tinh tế, tài tình:

Bỏ trăng gió lại cho đời

Bỏ ngang ngửa sóng giữa lời hẹn hoa

Bỏ người yêu bỏ bóng ma

Bỏ hình hài của tiên nga trên trời

Bây giờ riêng đối diện tôi

Còn hai con mắt khóc người một con

(Mắt buồn)

Rất gần với từ vựng của Thơ mới lãng mạn 1932-1945: “Một phút nữa thôi/ Và màu sẽ mất/ Suối sẽ xa đồi/ Như mây xa đất” (Màu thanh thiên mở). Có lúc siêu thoát: “Nghe một lần vĩnh viễn gặp hư không” (Hư vô và vĩnh viễn). Có khi lãng đãng phong sương: “Khuya thôi về lạnh phố phường/ Ôi buồn khổ lại như càng theo nhau/ Một bờ dương liễu bến sau/ Nước cằn cỗi đục như đau lá vườn” (Thiếu phụ trở về). Sáng tạo thơ nhiều khi diễn ra huyền bí: cái vô thức tiềm thức vận hành quá trình nối liền mơ và thực, chiêm bao kéo dài cái mênh mông mờ ảo về với cuộc đời, liên thông thiên đường với địa ngục, cái siêu thực dẫn vào hiện thực, bất ngờ tạo ra những kết cấu lạ mà ở đấy lý trí rơi vào thân phận “con hầu”, lép vế. Thế nhưng rất tài hoa, sáng tạo.

Ở dạng thứ hai, tiếng Việt biến hóa trong tay nhà ảo thuật:

- Các từ không tuân theo một trật tự logic thông thường. Đứng cạnh nhau mà các từ không có liên quan về ngữ nghĩa, cứ ngơ ngác vô hồn:

Em từ đọ mặt mốt mai

Từ em thánh nữ ra ngoài tiên nương

Em đi nhảy vọt phi trường

Tầm sương sái diện đoạn trường chào em

(Em từ)

- Các từ nằm trong trò chơi đảo chữ, nói lái, vô nghĩa:

Một hôm gầu guộc gầm ghì

Hai hôm gần gũi cũng vì ba hôm

Bôm ha? Đạn hả? Bao gồm

Bồm gao gạo đỏ bỏ gồm gạo đen

(Ngẫu hứng)

- Các từ “lơ lớ” của người ngọng:

Âm u ô úc ôn tù niệm

Yếm ố ư uyên uyển tội từ

(Hán hương u hương)

Tất cả đều không có nghĩa. Thế nên thơ Bùi Giáng, ở dạng thứ hai này, chúng ta không thể/không nên để công vào khảo sát. Đây là ngôn ngữ của bệnh nhân tâm thần. Nói thế nhưng chúng ta lại cần lưu ý đến hiện tượng có nhà thơ như bị thôi miên, bị “tâm thần hóa”, “điên hóa” trong những khoảnh khắc sáng tạo và xuất thần có được những câu thơ bài thơ trác tuyệt, lung linh, ám ảnh, khó mà lý giải. Muốn lý giải phần nào hiện tượng này, theo tôi, phải dựa vào/vận dụng tư duy hệ thống. Tư duy hệ thống đòi hỏi cách nhìn nhận vũ trụ cũng như từng vấn đề (trong tự nhiên cũng như trong xã hội) là một toàn thể thống nhất, không tách rời các bộ phận cấu thành, các hiện tượng đều tác động qua lại nhau, không độc lập mà liên thuộc hữu cơ với nhau trong cái toàn thể. Đổi mới tư duy nghiên cứu với tư duy hệ thống phải trên cơ sở khoa học hiện đại, tiếp thu những tri thức truyền thống, kết hợp tri thức khoa học với các tri thức thu được bằng trực cảm, bằng kinh nghiệm, kết hợp các khả năng lý luận khoa học và cảm thụ nghệ thuật, thấu hiểu bằng lý lẽ và cả bằng xúc động tâm hồn**.

 

______

* Trích từ Ngôn ngữ thơ hôm nay. Nguồn: Tạp chí Thơ, số 4-2013.

** Xem Phan Đình Diệu: Tư duy hệ thống và đổi mới tư duy. Sách Một góc nhìn của trí thức, tập II. NXB Trẻ, TP.Hồ Chí Minh, 2002.