Việc nước gian nan (Trích)

LTS: Thu Tứ sinh năm 1955, tên thật là Đoàn Thế Phúc, là con trai thứ của  nhà văn Võ Phiến. Ông tốt nghiệp Khoa Hàng không ở Caltech (Hoa Kỳ) năm 1981. Từ  năm 1991, ông tham gia hoạt động văn học, viết tùy bút, sáng tác thơ, dịch thơ  Đường và trình bày suy nghĩ của mình về nhiều vấn đề khác nhau. Bài viết Trường  hợp Võ Phiến đã đăng trên Hồn Việt là một trong những bài cho thấy sự suy nghĩ  vô cùng nghiêm túc của anh đối với đất nước. Ông có cái nhìn khác với cha mình,  xuất phát từ tấm lòng của một người Việt yêu nước, thấu hiểu lịch sử và con đường  gian nan của đất nước. Để kỷ niệm 40 năm đất nước thống nhất, bài viết này một  lần nữa cho thấy: dù ở nước ngoài nhưng Thu Tứ hiểu tình hình đất nước hơn hẳn  những người ở trong nước tự xưng là yêu nước nhưng luôn luôn muốn phủ nhận những  thành tựu mà cả dân tộc đã đạt được trong gần một thế kỷ chống giặc ngoại xâm  và xây dựng đất nước…

Một ngày lịch sử như thơ

“Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi”. Vì giặc Pháp tuy mạnh nhưng chỉ kéo theo được một tiểu quần chúng thành phần phức tạp và chỉ huy động được một số ngụy binh uể oải. Trong khi kháng chiến Việt Nam là đông đảo nhân dân thống nhất bởi lòng yêu nước, say sưa chiến đấu và phục vụ chiến đấu với tất cả sức lực và trí óc mình.
Ngày 10 tháng 10 năm 1954, khắp thủ đô vang lời bài Tiến về Hà Nội mà Văn Cao đã tiên cảm sáng tác sẵn từ năm 1950(!): “Trùng trùng quân đi như sóng, lớp lớp đoàn quân tiến về… Năm cửa ô đón mừng…”.

Ngày ấy 40 năm sau còn làm Hoàng Cầm ngây ngất, nhớ rõ mồn một từ cảm xúc của mình đêm trước: “tôi cứ thao thức mãi (...) nhưng rồi cũng chợp ngủ đi, có lẽ cũng như giấc ngủ dân Việt sau những Bạch Đằng, Chi Lăng, Đống Đa, trong ánh sao lung linh Nam quốc sơn hà, trong âm vang của Hịch tướng sĩ, trong ba hồi chín tiếng trống vang lừng Bình Ngô đại cáo (…) giấc ngủ sử thi”, đến từng chi tiết hôm sau: “Một không khí nhộn nhịp, tưng bừng chưa từng thấy (...) những phụ nữ, những bà cụ già, cả thanh niên học sinh cứ xông ra sờ mó quần áo bộ đội, có bà cụ cứ ôm riết một anh pháo binh bên cạnh chiếc xe chở cỗ pháo 105 ly mà xuýt xoa và khóc rất lâu. Chao ôi! Kể từ buổi trung đoàn Thủ Đô rút đi sau cái Tết chan hòa máu đổ, súng ran thay pháo đón xuân, tạm để lại Hà Nội cho địch chiếm (…). Chiến thắng rồi đây, giải phóng rồi đây (…) không khóc sao được, không gào thét lên sao được! (...) Bầu không khí lúc bình minh của Giải phóng Dân tộc ấy thật là một bầu trời phơi phới hoa nở, chim hót, toàn thủ đô (...) âu ca rộn ràng. Vào nửa đầu thế kỷ 15, khi Lê Lợi, Nguyễn Trãi kéo quân chiến thắng trở về chiếm lại Đông Quan, thì sắc mây, hương gió chắc hẳn cũng y hệt hôm nay (…). Đoàn quân đi thật không khác gì một dòng sông xanh mà hai bên là hai bờ hoa tươi cờ đỏ chập chùng (…). Phía sau (…) dân phố tràn ra lòng đường như thủy triều lên (…) lên mãi lên đến chân thành Hà Nội (nơi đoàn quân vào), nơi còn vết đạn đại bác của thực dân Pháp (bắn khi hạ thành năm 1882)”.

Thi sĩ xúc động “nói với cả loài người”: “Chúng nó mạnh, gây chiến, thất bại nhục nhã; chúng tôi yếu, chịu đựng, chiến thắng vẻ vang. Có thể gọi đó là đôi câu đối của thế kỷ 20, mà tác giả là dân tộc Việt Nam nhỏ mà cực mạnh, nghèo mà cực sang, trình độ kỹ thuật thấp mà tâm hồn cực cao”(1).

Nhớ lời Phan Bội Châu kêu gọi thanh niên năm xưa: “Dựng gan óc lên đánh tan sắt lửa, xối máu nóng rửa vết nhơ nô lệ”. Nhớ lời Đại tướng Võ Nguyên Giáp hơn mười năm trước, khi tuyên bố thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân: “Bao nhiêu căm hờn của dân tộc, bao nhiêu sự tàn khốc thê thảm đang chờ đợi một cuộc thanh toán”.

“Vết nhơ” đã được rửa rồi. “Cuộc thanh toán” với tên chủ nô đã xong rồi. Nhưng việc nước vậy mà lại chưa xong.

Làm nốt công việc còn lại

Chiến thắng Điện Biên Phủ của quân kháng chiến Việt Nam buộc đế quốc cổ điển Pháp phải chấp nhận mất một thuộc địa béo bở, sau khi đã tổn thất rất nặng nề(2). Nó phải ngậm đắng nuốt cay mà cút, nhưng trước khi cút nó giúp đế quốc ý thức hệ Mỹ thực hiện một trò ma.

Trò ma diễn tiến như sau: Hiệp định Genève quy định sẽ có tổng tuyển cử, nhưng ở miền Nam bọn ngụy quyền “Quốc gia Việt Nam” tay sai của Pháp lấy cớ chúng không ký vào hiệp định để từ chối hợp tác tổ chức, rồi chúng tuyên bố “lập quốc” trên nửa nước từ vĩ tuyến 17 trở vào, xong tổ chức bầu cử gian lận trên lãnh thổ “nước Việt Nam Cộng hòa” để “hợp pháp hóa” chính phủ Ngô Đình Diệm. Tại sao thay “Quốc gia Việt Nam” bằng “nước Việt Nam Cộng hòa”, thay Bảo Đại bằng Ngô Đình Diệm? Bởi cả tên “nước” lẫn tên người đều quá tai tiếng. Ai cũng biết “Quốc gia Việt Nam” chỉ là mưu mô của Pháp để lại dùng người Việt đánh người Việt y như trước kia, là bình mới đựng thứ rượu cũ rích vốn chứa trong cái nước An Nam chịu làm con đế quốc. Còn Bảo Đại thì tai tiếng vì hết làm vua bù nhìn đến làm quốc trưởng bù nhìn của hai cái nước không có thực(3). Vừa chào đời, chính phủ Ngô Đình Diệm được cái thế lực đẻ ra nó và đồng minh lập tức công nhận. Sinh xong rồi dưỡng: Mỹ viện trợ toàn diện, Pháp chuyển giao vũ khí. Nó tức thì ra tay tận diệt tất cả mọi chống đối, biến miền Nam thành một tiền đồn của khối tư bản theo đúng kế hoạch của Mỹ. “Miền Nam tự do”! Không có đảng cộng sản lãnh đạo nhân dân đánh đuổi Pháp thì trên toàn lãnh thổ nước Việt Nam làm gì có một tấc đất tự do! Bao nhiêu người đã hy sinh anh dũng mới có cái ngày một thiểu số theo giặc được cai trị nửa nước!

Ngay từ đầu, khi ký Hiệp định Genève, nhà nước Việt Nam đã biết dã tâm của địch. Nếu đủ sức, sau Điện Biên Phủ ta đã tiếp tục đánh cho đến khi giặc Pháp xô nhau xuống tàu cút thẳng, chứ đâu thèm nói chuyện với nó, chấp nhận bất cứ điều kiện nào của nó. Nhưng tương quan lực lượng, nhất là trong tình hình siêu cường Mỹ lăm le can thiệp, không cho phép làm thế. Lãnh đạo ta đành phải miễn cưỡng chấp nhận tạm ngừng nỗ lực chiến tranh ở đây, chờ gặp thời cơ thuận lợi hơn mới bắt tay làm nốt phần công việc còn lại là thống nhất đất nước.

Thời cơ không phải đợi lâu. Chẳng những không hề đại biểu cho toàn thể nhân dân miền Nam, chính phủ Ngô Đình Diệm thậm chí cũng không đại biểu được cho gần trọn cái “tiểu quần chúng” ở miền Nam (trong đó có những kẻ vốn ở miền Bắc, sau Genève vội vã di cư vào Nam). Chính vì chỉ nắm được có một phần của tiểu quần chúng mà chính phủ Ngô Đình Diệm bị phe nhóm khác lật đổ. Đảo chính rồi lại đảo chính, liên miên, mãi rồi mới tạm ổn định nhưng chính quyền Sài Gòn cũng vẫn chỉ là đại biểu của một thiểu số, đã thế lại tham nhũng nổi tiếng! Cái bản thân rất không xứng đáng của nó, cùng với tinh thần hy sinh cao độ của những người quyết tâm thống nhất đất nước, là lý do khiến “Việt Nam Cộng hòa” không thể tồn tại lâu bất kể trời bom, biển đôla và rất nhiều máu lính Mỹ mà nhà nước Mỹ qua mấy đời tổng thống đã đầu tư!

Trong tác phẩm Cuộc chiến tranh thực sự xuất bản năm 1980 mà nội dung là tình hình địa chính trị đương thời, Tổng thống Mỹ Richard Nixon khi nhắc đến chiến tranh Việt Nam đã dùng mấy chữ “những quốc gia non trẻ”. Quốc gia non trẻ nào?! Ở khu vực ấy chỉ có một quốc gia lâu đời hơn chính nước Mỹ rất nhiều bị Mỹ ỷ mạnh xông vào cắt ra làm hai, dựng lên một chính quyền thiểu số cai trị một cái gọi là quốc gia! Năm 1997 khi Đại tướng Võ Nguyên Giáp và nguyên Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Mỹ McNamara gặp nhau, Đại tướng bảo ông McNamara: “Các ông thua vì (…) không hiểu gì về văn hóa Việt Nam”(4).

Sự dốt nát về lịch sử, văn hóa của một vùng đất khác trên thế giới đã làm một siêu cường phải đại bại dưới tay một nước nhỏ yếu.

Tại sao phải làm việc ấy

Chính quyền Sài Gòn có nguồn gốc ô nhục là cái ngụy quyền làm tay sai cho Pháp trong thời dân tộc Việt Nam đánh Pháp. Nó lại bản thân bất xứng. Thế là đã quá đủ lý do khiến nó phải thôi tồn tại. Nhưng thực ra trước tiên, trên tất cả, là cái đòi hỏi rằng đất nước phải thống nhất. Dân tộc Việt Nam suốt bao nhiêu thế hệ hy sinh xương máu mới mở được nước đến chừng này, không phải là để cho nước bị chia hai! Chỉ có một dân tộc Việt Nam, một đất nước Việt Nam. Gọi hành động thống nhất là “xâm lược” là có vấn đề cơ bản về ý thức quốc gia dân tộc! Đi mà hỏi người Pháp người Mỹ xem họ có chịu để cho nước Pháp nước Mỹ bị chia hai hay không! Đi mà hỏi nếu đất nước họ bị chia hai, khi một bên có cơ hội làm được cái việc thống nhất thì có nên cố hết sức làm hay không!

Bị chia lâu ngày sẽ rất khó nhập lại làm một. Thời Trịnh Nguyễn hai chúa nhưng chỉ một vua, hai Đàng nhưng chỉ một nước, vậy mà Ngoài - Trong cũng đã sinh dị biệt không nhỏ. Huống chi sau 1954, Bắc - Nam mỗi miền một chính thể. Phải thống nhất trước khi thống nhất không còn có thể thực hiện được. Trò chuyện với vài bạn trẻ nhân dịp về nước ăn Tết Ất Mùi mới đây, có bạn đã hỏi chúng tôi không biết người Hàn Quốc với người Triều Tiên là một hay hai dân tộc! Nghe rồi nghĩ đến chuyện đất nước mình mà rùng mình, mà thấy dân tộc Việt Nam thật đã hết sức may mắn.

Chiến tranh Việt Nam đối với hai phía ngoại bang là chiến tranh ý thức hệ. Khối tư bản và khối cộng sản lấy đất nước ta làm bãi chiến trường. Như Tổng bí thư Lê Duẩn từng nhận xét: “Ta đánh Mỹ là đánh cả cho Liên Xô và Trung Quốc”. Nhưng đó là cái may mắn của Liên Xô và Trung Quốc, chứ chiến tranh Việt Nam đối với ta cơ bản không phải là chiến tranh ý thức hệ. Nhân dân Bắc - Nam đánh Mỹ và chính quyền Sài Gòn là để thống nhất đất nước bị một đám thiểu số lấy lý do chống một ý thức hệ mà giành cai trị một nửa nước và sau đó rước quân ngoại bang vào để chống lại nhân dân.

Thiểu số chống cộng bảo những người cộng sản Việt Nam đặt ý thức hệ lên trên Tổ quốc. Điều ấy không thể đúng được, vì chẳng hề có lúc nào những người cộng sản phải chọn giữa ý thức hệ và Tổ quốc! Liên Xô không bao giờ và Trung Quốc trong khung thời gian ấy không hề là một đe dọa đối với nước Việt Nam (vốn đã mất cho đến ngày 2-9-1945). Một số người Việt Nam yêu nước bôn ba hải ngoại tìm cách cứu nước, thấy tiềm năng nơi chủ nghĩa cộng sản nên đem nó về, tuyên truyền thuyết phục nhân dân Việt Nam theo nó, chỉ có thế thôi. Họ không rước quân Liên Xô, quân Trung Quốc về, thậm chí trong một thời gian dài không nhận được chút giúp đỡ vật chất nào từ Liên Xô hay Trung Quốc. Sự thực là những người cộng sản Việt Nam đã vừa chọn chủ nghĩa cộng sản vừa làm tốt cả hai việc phục hồi tổ quốc đã mất và nối lại Tổ quốc bị chia hai. Chính những kẻ nhất định chống cộng cho bằng được, cho đến nỗi trước không tham gia kháng chiến hoặc theo giặc đàn áp kháng chiến, sau rước hàng nửa triệu quân Mỹ và cả bao nhiêu quân chư hầu Mỹ vào cố giữ nước chia hai, chính những kẻ ấy mới đã đặt ý thức hệ (hay quyền lợi, niềm tin tôn giáo) lên trên Tổ quốc!
Đơn giản, cái việc không thích một chủ nghĩa, việc ấy tự nó không sao cả. Ai không thích chủ nghĩa cộng sản thì cứ việc đi thuyết phục nhân dân đừng theo, thậm chí có thể đấu tranh tích cực với những người cộng sản. Nhưng nếu thuyết phục thất bại, đấu tranh thua, thì phải chấp nhận, chứ không được hành động phương hại đến quyền lợi đất nước!

(Trở lại với cái may của Liên Xô và Trung Quốc. Họ may vì đã được ủng hộ cái phía có hậu thuẫn của đông đảo nhân dân Việt Nam, nên chỉ phải viện trợ vũ khí mà thắng. So với Mỹ rủi vì đã đứng đằng sau cái phía thiểu số, nên phải tự mình lao vào đánh mà vẫn thua).

Làm xong việc ấy vẫn chưa xong!

Đã nêu rằng trong cuộc đánh Pháp, số không ít những kẻ hợp tác với giặc là một khó khăn không gặp trong khoảng 1.000 năm kể từ Ngô Quyền, phải đi ngược về thời Bắc thuộc mới gặp. Nhưng cái sự khó chịu xảy ra sau tháng 4-1975 sắp nói tới sau đây thì trong lịch sử lâu dài của dân tộc chưa từng có: một số người Việt Nam chạy qua nước khác ở rồi chửi bới om sòm và tìm mọi cách lật đổ nhà nước Việt Nam! Họ là ai? Đại khái, đều ở trong cái tiểu quần chúng đã trình bày, nhiều người phục vụ trong chính quyền Sài Gòn, một số làm việc cho các cơ quan Mỹ ở Việt Nam. Họ chỉ là một thiểu số trong hằng mấy triệu đồng bào đang sống ở nước ngoài, nhưng ồn ào hơn hẳn bao nhiêu người khác.

Do đâu mà có mấy triệu Việt kiều? Ngoài việc trực tiếp di tản ngay một số người Việt Nam, nhà nước Mỹ trong một thời gian khá dài đã mở rộng cửa nước Mỹ cho những người “tị nạn chính trị”. Chính sách này kết hợp với chênh lệch kinh tế khổng lồ giữa Mỹ và Việt Nam rồi khiến xảy ra hiện tượng hằng triệu người Việt bỏ nước mà trong đại đa số trường hợp động cơ đích thực là kinh tế chứ không phải chính trị. Gần một trăm năm Pháp thuộc, chiến tranh đánh Pháp đánh Mỹ, rồi chiến sự ở Campuchia, chiến sự và áp lực quân sự ở biên giới phía bắc…, kinh tế chưa kịp đổi mới, quá khứ và hiện tại đã cùng nhau khiến điều kiện vật chất ở nước ta vào khoảng thời gian ấy hết sức khó khăn. Trong khi nước Mỹ nổi tiếng đặc biệt giàu có. Thế là bao nhiêu người liều chết ra đi. Ngoài cách vượt biên hết sức nguy hiểm, về sau có thêm hai cách bỏ nước an toàn là thông qua Chương trình “Ra đi có trật tự” và quy định “Đoàn tụ gia đình” cố hữu của luật di trú Mỹ. Ngoài Mỹ, một số nước Tây phương khác cũng mở cửa, tuy không rộng như Mỹ, cho người Việt Nam vào định cư. Vào đầu thập kỷ 1990, khi Đông Âu và Liên Xô đại biến, một số người đang học tập hay lao động trong khu vực ấy đã không trở về nước, làm tăng thêm số Việt kiều trên thế giới. Ngay cả sau khi kinh tế nước bắt đầu cải tiến, một số người Việt Nam tuy điều kiện vật chất đã khá dễ chịu, vẫn bỏ nước để qua ở chỗ sướng hơn. “Định cư ở nước ngoài” thì con cháu mình trở thành người nước ngoài, là việc đau đớn, thế mà… Có người bỏ nước vì lý do kinh tế rồi qua Mỹ huyên thiên về bất đồng chính trị. Nhưng đa số không nói gì cả và chắc chắn có những người lấy sự xa quê làm bất đắc dĩ, lòng vẫn luôn hướng về Tổ quốc.

Trở lại với thiểu số Việt kiều nói trên. Họ ngày đêm tiến công nhà nước Việt Nam suốt 40 năm nay. Về quá khứ, họ xuyên tạc cơ bản diễn biến lịch sử và vu khống lãnh đạo thời đánh Pháp đánh Mỹ. Về hiện tại, những người này giả mù trước tất cả những thành quả tốt đẹp đạt được dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam mà tập trung hoàn toàn vào những tiêu cực do họ công phu sưu tầm, họ phê phán tình hình đất nước ta căn cứ vào những tiêu chuẩn của Tây phương, họ vu khống lãnh đạo đang tại chức. Trong một thời gian dài, những lời hết sức nặng nề chứa những lẽ hết sức vô lý cùng những trò thêu dệt “nước lã khuấy nên hồ” không đi tới đâu cả. Nhưng gần đây nó bắt đầu chứng tỏ có tiềm năng gây hại đáng kể cho đất nước.

Thoạt tiên kẻ thù “đánh” trên báo chí tiếng Việt ở nước ngoài do họ làm chủ hoặc kiểm soát. Rồi một số gia nhập những đài phát thanh quốc tế thù địch. Sau khi mạng Internet ra đời, nhiều kẻ mở trang điện tử riêng để tự mình phổ biến những nội dung phản động. Cuộc cách mạng kỹ thuật thông tin dưới áp lực của các đối tác kinh tế Tây phương, khiến nhà nước Việt Nam phải nới lỏng kiểm soát các phương tiện truyền thông, làm cho kẻ địch bỗng nhiên có thể trực tiếp tuyên truyền cho nhân dân Việt Nam ở khắp mọi nơi trên lãnh thổ nước Việt Nam một cách hiệu quả ! Một thiểu số bé nhỏ bỗng nhiên được nói to hơn lên gấp trăm lần! Ngoài nhu cầu tiếp tục phát triển kinh tế, gần đây ta còn phải lo đối phó với áp lực lấn chiếm biển đảo của Trung Quốc. Không biết Mỹ đang ép nhà nước ta phải nhượng bộ những gì trong các vòng đàm phán về việc ký Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương. Kẻ thù ở hải ngoại đang lợi dụng hoàn cảnh khó khăn của đất nước mà câu kết chặt chẽ với một thiểu số bất mãn trong nước để bắt đầu kín đáo tiến công bằng cả sách báo quốc nội!

Cơ bản, những kẻ ấy mơ đánh lại một cuộc chiến tranh họ đã thua. Nhà nước Mỹ chắc chắn cũng muốn lật đổ cái chính quyền từng lãnh đạo nhân dân Việt Nam đánh bại quân đội Mỹ và dựng lên một chính quyền rập theo đúng khuôn Mỹ (Pháp - đế quốc cổ điển nên thua, thôi luôn; Mỹ - đế quốc ý thức hệ nên thua chiến tranh thì đánh bằng “diễn biến hòa bình”!). Nhưng nhà nước Mỹ hành động trước hết vì quyền lợi nước mình nên trong tình hình quốc tế phức tạp hiện nay có thể chưa muốn gây mất ổn định chính trị ở Việt Nam, trong khi kẻ thù hải ngoại luôn xem việc lật cho đổ nhà nước ta càng sớm càng tốt là quan trọng nhất. Cùng ý đồ, nhưng hai “đồng minh” có thể bất đồng về thời điểm hành động.

Kẻ thù hải ngoại đang sống ở những quốc gia giàu mạnh. Họ vừa hưởng điều kiện vật chất tốt vừa được che chở, khuyến khích, giúp đỡ để hoạt động đánh phá nhà nước Việt Nam, họ sẽ rất vui vẻ tiếp tục đánh phá cho… đến chết.

Đôi lời với những người bất mãn

Áp lực từ Tây phương và cách mạng kỹ thuật thông tin dĩ nhiên cũng rất có lợi cho thiểu số bất mãn trong nước. Họ cũng được có cái tiếng to hơn hẳn kích thước mình. Và vì “kẻ thù của kẻ thù là bạn”, họ rất tự nhiên liên kết với kẻ thù hải ngoại. Ở đây có lẽ không cần phải nêu rõ từng thành phần, mà chỉ cần phân biệt động cơ xấu và tốt. Động cơ xấu là trả thù, tranh giành quyền lực. Động cơ tốt là quan tâm đến tình hình đất nước. Đối với những kẻ có động cơ xấu, chúng tôi không có điều gì để nói. Chỉ đối với những người thực sự vì việc chung, chúng tôi mới xin có đôi lời.

Cơ bản, các ông muốn xóa bỏ vai trò lãnh đạo tối cao của Đảng Cộng sản Việt Nam, thay bằng chính thể dân chủ Tây phương. Các ông cần thôi ngay ảo tưởng về Tây phương! Ở phương ấy, văn hóa tinh thần đã xuống tới tầm cỏ, quan hệ cá nhân cực kỳ lủng củng, xã hội đầy bạo động, ngày càng đông những con bệnh tâm thần và chênh lệch giàu nghèo liên tục gia tăng. Cái ảo tưởng “Tây cái gì cũng hay” nó gốc ở thế thượng phong tuyệt đối về vật chất mà Tây phương đã đạt được. Nhưng thế thượng phong ấy là nhờ khoa học, chứ không phải nhờ chính thể dân chủ. Nên nhớ Âu châu thời đế quốc vàng son không hề dân chủ như bây giờ. Khoa học đã ra đời và lớn lên trong những chính thể từ độc tài tuyệt đối cho tới dân chủ hạn chế! Khoa học có lớn nhanh bất thường ở Mỹ sau thế chiến thứ hai, nhưng đó là nhờ rất nhiều tiền của và chất xám bên Âu châu dồn qua trong và sau chiến tranh, chứ không phải nhờ nước Mỹ thực thi dân chủ cực đoan. Dân chủ cực đoan chỉ có vai trò giúp xã hội Mỹ rất nhanh chóng trở nên sa đọa. Nay tinh thần đã hỏng, mà ưu thế vật chất của Mỹ cũng đang giảm mạnh, chủ yếu do cạnh tranh từ một Trung Quốc độc đảng hưng thịnh lên nhanh như phép lạ. Bên Âu châu dân chủ cực đoan cũng gây hại y như ở Mỹ. Cả Tây phương đang hết sức cần tự sửa mình, nhưng vẫn còn mù quáng tiếp tục hung hăng đi bắt cả thế giới lấy mình làm gương! Tây chỉ có một cái hay ta phải bắt chước là khoa học.

Các ông bất mãn yêu nước không được theo kẻ thù hải ngoại phê phán việc xảy ra trong nước Việt Nam căn cứ vào những tiêu chuẩn của cái ý thức hệ mà một bộ phận nhân loại đang bằng mọi cách cố áp đặt lên toàn thể nhân loại. Đặt quyền cá nhân lên trên lợi tập thể là ý riêng của Tây chứ không phải là ý Trời! Các ông không được tìm cách thay đổi chính thể trong khi rõ ràng chưa có một chọn lựa nào ưu việt. Trong số các ông, chắc cũng có những ông thực ra không tha thiết lắm với dân chủ Tây phương, trở nên bức xúc cao độ chẳng qua vì thấy có những cá nhân khuyết điểm nặng nề mà lại quá thế lực, khó ai động tới. Đó là bức xúc chính đáng. Đó là vấn đề nếu không được giải quyết đúng mức thì rút cuộc sẽ làm Đảng mất địa vị lãnh đạo. Nhưng làm gì thì làm, tuyệt đối không ai được đi giúp kẻ thù hải ngoại xuyên tạc lịch sử dân tộc. Vì như thế là xúc phạm đến hy sinh to lớn của nhân dân, đến vong linh của bao nhiêu liệt sĩ.

Đôi lời với Đảng Cộng sản Việt Nam

Sau thống nhất, phần do hậu quả chiến tranh, phần do chiến sự ở Campuchia và tình hình ở biên giới phía bắc, phần nữa do chính sách chưa phù hợp, kinh tế quốc gia trì trệ. Đảng đã kịp thời quyết định đổi mới và sau đó đã tiến hành tốt đẹp công cuộc phát triển kinh tế. Điều kiện vật chất của người dân nay hơn trước rất nhiều. Tuy nhiên, việc nước không bao giờ hết và hiện tại đặc biệt khó khăn. Có năm việc lớn:

Thứ nhất, làm sao cho kinh tế phát triển nhanh hơn nữa.

Thứ hai, đối phó với áp lực lấn chiếm biển đảo của Trung Quốc.

Thứ ba, đối phó với áp lực đồng hóa chính trị của Tây phương.

Thứ tư, xây dựng văn hóa Việt Nam mới với bản sắc riêng.

Thứ năm, giải quyết vấn đề quan chức tham nhũng trầm trọng.

Bốn công việc đầu liên hệ mắc mứu với nhau rất phức tạp. Muốn kinh tế tiếp tục phát triển thì phải tiếp tục giao thương với Tây với Tàu, mở cửa cho Tây vừa xâm lăng văn hóa vừa xúi giục “diễn biến hòa bình” lật đổ nhà nước ta, cho Tàu vừa lũng đoạn kinh tế vừa làm mềm ý chí chống Tàu của nhân dân ta thông qua công việc làm ăn, quan hệ mua bán. Muốn chống Trung Quốc lấn biển đảo thì phải quan hệ chặt chẽ hơn với Mỹ, cho Mỹ thêm cơ hội can thiệp vào chính trị. Muốn giảm vai trò của Mỹ thì phải vui vẻ với Trung Quốc, cho Trung Quốc thêm cơ hội lũng đoạn kinh tế v.v… Mặt khác, cũng có một cái may lớn là Mỹ và Trung Quốc đang kịch liệt tranh giành ảnh hưởng ở phía đông châu Á, nên cả hai đều cũng cần ta chứ không phải chỉ ta cần họ. Ngoài ra, việc quan hệ với Nga, Ấn, Nhật, Hàn cũng giúp giảm áp lực Mỹ, Trung Quốc. Vừa đối ngoại sáng tạo vừa tích cực cải tiến quốc phòng, ta có thể chống được cả diễn biến hòa bình lẫn làm kẻ thèm biển đảo của ta không dám ra tay cướp.

Về công việc văn hóa, phải xây dựng một văn hóa Việt Nam mới vì môi trường sống của người Việt Nam đang bể dâu, từ Quê hóa Tỉnh(5). Làm sao để văn hóa mới của ta khỏi là một bản sao của văn hóa Tây? Nên nhớ việc xây dựng phải làm trong tình hình vừa Tây tích cực xâm lăng văn hóa vừa chính dân ta thấy Tây giàu mà tự ý xóa văn hóa mình, đua nhau bắt chước Tây như điên! Năm 2006 Trưởng ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương Nguyễn Khoa Điềm đã nhận xét: “(Bây giờ là) thời kỳ (đại đa số nhân dân) chỉ lo làm giàu, đề cao người khéo xoay xở làm ăn, coi nhẹ đạo đức”(6).

Từ bấy đến nay, tình hình mỗi ngày mỗi trở nên tệ hơn. Ngoài tiền bạc, đông đảo dân ta giờ say cả tiếng tăm, bất kể tiếng tốt hay xấu! Cứ làm sao cho giàu và nổi tiếng là được! Xã hội Việt Nam vốn trọng đạo đức và chỉ quý tiếng tốt. Cái bệnh “Tiền - Tiếng” quái quỷ là bệnh của xã hội Tây phương. Cứ đà này, Tây sinh bệnh gì ta sẽ lập tức lây ngay bệnh ấy. Văn hóa tốt đẹp là mục đích của chính trị, mà cũng là phương tiện cho chính trị nữa. Nếu cứ để quần chúng tiếp tục sa ngã, mong gì có thể kêu gọi hành động vì lý tưởng khi cần.

Về nạn tham nhũng, thời đánh Pháp đánh Mỹ, cấp lãnh đạo nhờ “cần, kiệm, liêm, chính” mà mới làm được việc lớn. Muốn mọi người nghe mình thì mình phải nêu gương. Vấn đề đã trầm trọng, phải giải quyết chứ không thì rút cuộc Đảng sẽ mất hậu thuẫn của đa số nhân dân, bất ổn chính trị không do ngoại nhân sẽ xảy ra.

Làm năm công việc vừa kể, tạm gọi là “đánh giặc”. Đảng Cộng sản Việt Nam liệu lần này có đánh được giặc hay không? Đảng đã thành công, ấy bởi đã biết linh động thay đổi. Để lại thành công, Đảng phải tiếp tục thay đổi.

Bao nhiêu xương máu mới độc lập và thống nhất. Hết sức mong Đảng sẽ tiếp tục làm việc nước cho xứng đáng với hy sinh to lớn của nhân dân.

Kỷ niệm 40 năm ngày thống nhất đất nước

 

_____

(1) Viết năm 1994, in trong Hoàng Cầm - văn xuôi, 2002.

(2) Theo trang vi.wikipedia.org, quân Pháp chết 75.581, bị thương 64.127, bị bắt 40.000.

(3) Có nghĩa lý gì cái chuyện ngụy quyền được “quốc tế” công nhận! “Quốc tế” chẳng qua là bạn bè thân hữu, đối tác kinh tế, quan hệ chiến lược và chư hầu của đế quốc.

(4) Theo Trần Ngọc Thêm trong bài viết Đánh giá của Đại tướng về vai trò của văn hóa Việt vô cùng đúng đăng trên trang vanhoahoc.edu.vn.

(5) Xin xem bài Thôi một nước quê của Thu Tứ (Hồn Việt số 89, tháng 1-2015).

(6) NKĐ, Góc nhìn văn hiến Việt Nam (nhiều tác giả), 2006.