Văn hóa dân gian - điểm tựa vững chắc cho sự thăng hoa của một nền văn hóa

L.T.S: Vừa qua, Hội Văn nghệ dân gian Hà Nội đã tổ chức một cuộc hội thảo về văn hóa dân gian Hà Nội. Nhiều tham luận đã được trình bày tại hội thảo. Hồn Việt trân trọng giới thiệu bài phát biểu của nhà thơ Bằng Việt, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học - Nghệ thuật Hà Nội, tại cuộc hội thảo nói trên.

Từ hơn 30 năm trước, trong khi dịch cùng nhà nghiên cứu văn hóa Phan Hồng Giang cuốn sách tâm huyết của nhà văn Raxun Gamzatốp, người dân tộc Avar (trong Liên bang Nga), tôi đã có một thú vị bất ngờ khi bắt gặp câu nói tưng tửng của ông cụ già làng Abutalíp tưởng như đùa chơi, nhưng lại rất nghiêm túc: “Nếu ta bắn vào quá khứ bằng súng lục, thì tương lai sẽ bắn vào chúng ta bằng đại bác”. Câu nói có ý nghĩa thức tỉnh đó, về sau, tôi cũng đã được nghe lại nhiều lần trong phát biểu của nhiều cán bộ bảo tồn bảo tàng của chúng ta, khi họ cũng thấm thía nhận ra rằng bản thân chúng ta trong nhiều năm đã không chỉ bắn bằng súng lục mà còn nã đạn cả súng trường và súng máy vào di sản quá khứ của cha ông không thương tiếc! May thay, những sai lầm do vô cảm, do thiếu hiểu biết và đôi khi cũng còn do cả tinh thần cách mạng ấu trĩ một thời, vội vã muốn xóa sạch trơn mọi tàn tích phong kiến cũ, kể cả vật thể và phi vật thể… đã dần dần được chấn chỉnh và thay đổi. Ngọn gió Đổi Mới quả đã may mắn làm hồi sinh nhiều giá trị cũ tưởng chừng như đã vĩnh viễn bị loại ra khỏi đời sống xã hội của chúng ta!

pic

 Tranh dân gian - Đám cưới chuột

Tôi nói điều đó để thấy rằng việc chúng ta biết đặt các giá trị của di sản văn hóa vào đúng chỗ của nó, và còn biết cách bảo tồn, tôn tạo, phát huy nó một cách hợp tình hợp lý, có trình tự, có bài bản…, bản thân việc đó cũng đã là cả một động thái cực lớn, gần như là cả một chuỗi chiến công thầm lặng nhưng vô cùng sáng giá, có ý nghĩa cho sự tồn vong và phát triển đời sống tinh thần của dân tộc ta.

Tuy nhiên, đã nói thì cũng phải nói cho hết nhẽ. Trong quá trình nhận thức lại và ồ ạt phục hồi các giá trị cũ, không phải chúng ta không có những bước đi quá đà, lại cũng do chưa đủ cơ sở lý luận, nên lại sa vào một cực khác khá bối rối nữa: Đó là làm vội, làm ẩu, làm lấy được, hoặc làm tắc trách; pha trộn cổ kim, Đông Tây hổ lốn, hoặc tô vẽ các khía cạnh giả cổ bằng quan niệm thông tục của ngày hôm nay; lại cũng có khi mượn cớ “bình cũ rượu mới” để tân trang lại nội dung mà không sao tránh khỏi kệch cỡm, hoặc ngược lại là “bình mới rượu cũ”, nhưng vô hình trung lại phá vỡ đi mọi sự cân bằng hài hòa cần thiết giữa hình thức và nội dung, giữa giải pháp và bản chất; cắt cụt đi sợi chỉ đỏ xuyên suốt bên trong có ý nghĩa điều tiết hữu cơ và tự nhiên mọi liều lượng cân đối giữa các yếu tố huyền thoại và hiện thực, hữu hình và vô hình, tâm linh và đời sống thường nhật. Khẩu hiệu “Ôn cố tri tân” là một khẩu hiệu rất khôn ngoan và thiết thực của cha ông, nhưng chúng ta thực hiện cũng chưa thấu đáo. Mới chỉ cần thực hiện triệt để khẩu hiệu này thôi, có lẽ trong nếp sống, trong cách ứng xử giữa người với người, trong đạo đức xã hội, trong giáo dục lớp trẻ và tạo dựng mối quan hệ tốt đẹp giữa gia đình, nhà trường và xã hội… đã bớt đi nhiều hẫng hụt và bất cập như hiện nay.

Văn hóa dân gian là một nền tảng văn hóa tinh túy và chọn lọc đã được đúc kết và mài giũa qua hàng nghìn đời, nó đã tự được tu chỉnh và điều tiết từ thế hệ này qua thế hệ khác, cho nên không thể bảo rằng nó được kết tụ một cách ngẫu nhiên hoặc tùy hứng. Nghĩ kỹ, nó chính là nơi quy tụ những nét đặc trưng nhất của tâm thế dân tộc, lối sống và lề thói ứng xử của người Việt từ xa xưa, phẩm chất và phong cách sống của họ, tập quán và mọi hình thái hướng nội và hướng ngoại của con người họ. Không thể khác, nó cũng là hòn đá thử vàng cho trí tuệ và cảm xúc của mỗi tộc người, là điểm tựa để họ vươn cao tới nền văn minh nhân loại. Và phải chăng, khi mỗi dân tộc càng đạt tới tầm cao của nền văn minh phổ quát của nhân loại, thì họ càng tự hào là mình đã đem được những nét đặc trưng gì từ nền tảng văn hóa dân tộc từ cổ xưa của riêng mình đóng góp vào cho nhân loại. Và phải chăng, cũng từ những nét đặc trưng của nền văn hóa dân gian của mỗi dân tộc, mà người ta có thể định dạng và định tính cho mỗi dân tộc, chứ không thể còn bằng các tiêu chí nào khác, dù là về kinh tế hay chính trị, địa lý hay nguồn gốc cư dân?

pic

 Tranh dân gian - Bịt mắt bắt dê

Sự thăng hoa của một nền văn hóa tất nhiên đòi hỏi từ rất nhiều điều, cả từ nền tảng phát triển kinh tế, phát triển giáo dục, khoa học kỹ thuật và công nghệ, rồi sự phát triển toàn diện trí - đức - thể - mỹ và sự phát triển nòi giống thông qua các tiến bộ vượt bậc về y tế và chăm sóc sức khỏe cộng đồng, và đồng thời, song song với văn hóa dân gian thì nền văn hóa bác học cũng phải phát triển tương xứng nữa. Nhưng không thể phủ nhận, điều quan trọng là nền tảng văn hóa dân gian vẫn phải được bảo tồn và phát huy rực rỡ, nó xứng đáng là một điểm tựa vững chắc và tin cậy, khởi nguồn cho sự thăng hoa ấy. Điều đó đã có thể khẳng định là chân lý hiển nhiên, được cả nhân loại thừa nhận.

Trong giai đoạn tiến tới Đại lễ kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long, chúng ta cũng đã rất có ý thức muốn tổng kết các giá trị văn hóa truyền thống bằng cả một loạt công trình khoa học, các bộ từ điển, bách khoa thư và sách tham khảo chuyên đề, để tra cứu về văn hóa vật thể và phi vật thể, về tín ngưỡng, tâm linh; đồng thời làm các tổng tập, các tuyển tập công phu về mọi lĩnh vực của văn hóa dân gian nói chung, về văn học truyền miệng, về âm nhạc và mỹ thuật, điêu khắc dân gian nói riêng, rồi các tập sách nghiên cứu về các hương ước xưa, về các làng nghề nổi tiếng và các nghề thủ công truyền thống, về các lễ hội dân gian, các trò chơi dân gian, cho đến y phục và ẩm thực dân gian… Đó là những công trình rất có ý nghĩa, soi rọi được nhiều mặt, nhiều giá trị quan trọng về dân tộc học, phong tục tập quán và ngôn ngữ, mà lâu nay chúng ta còn chưa thật chú tâm khai thác và tận dụng. Trong hoạt động thực tiễn, Hội liên hiệp Văn học Nghệ thuật Hà Nội cũng rất chú trọng đến việc khai thác các giá trị văn hóa nghệ thuật cổ xưa, có khi bị bỏ quên suốt cả một thời gian dài hoặc để mặc đến mức gần như bị thất truyền. Điển hình như Hội Nghệ sĩ múa Hà Nội đã bỏ ra 4 năm để khám phá, khôi phục, dàn dựng lại gần 20 điệu múa cổ ở các vùng đất xung quanh Hà Nội và Hà Đông, Sơn Tây, lên đến gần Hòa Bình (vùng văn hóa Thăng Long và văn hóa Xứ Đoài xưa)… là các điệu múa dân gian cực kỳ quý hiếm và có nguy cơ bị mai một nếu không có kế hoạch bảo tồn, lưu giữ lại. Và các nghệ nhân, những cụ già còn nhớ được các làn điệu múa cổ, thậm chí trực tiếp thị phạm cho lớp con cháu học theo lối truyền khẩu và bắt chước động tác, tới nay cũng chỉ còn đếm được trên đầu ngón tay! Việc chúng ta ghi chép lại các làn điệu dân ca cổ, cho in sao âm bản các tác phẩm điêu khắc cổ trên đá, trên gỗ, chụp lại một cách bài bản các tác phẩm mỹ thuật, các di sản văn học, viết hoặc chép tay (bằng các ký tự Hán Nôm) trong các kho tàng lưu trữ nhà nước và tư nhân, hoặc sao chép lại từ các kho lưu trữ ở nước ngoài (như gần đây NXB Hà Nội nhân có kinh phí khá chu tất của Tủ sách 1.000 năm Thăng Long, đã dám cử chuyên gia đi sưu tầm và thuê sao chụp lại nhiều nguồn tư liệu quý ở Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Pháp và Anh, thậm chí cả ở Ấn Độ, Hà Lan, Mỹ…) để đưa về, hệ thống hóa lại và lưu giữ lâu dài bằng microfilm… trong điều kiện bảo quản chu đáo, đó cũng là những công việc thầm lặng nhưng hữu ích và thể hiện được hướng đi đúng của chúng ta trong việc biết gìn giữ, tôn vinh và phát huy các giá trị văn hóa dân gian phong phú, lâu đời của dân tộc.

pic

  Tranh dân gian - Rồng rắn lên mây

Đối với các lễ hội truyền thống, chúng ta tuy vẫn cho phục hồi và tổ chức khá bài bản ở nhiều nơi, nhưng cũng lại phải tránh việc đua đòi, bắt chước nhau một cách hình thức và chiếu lệ, đến mức các lễ hội ở các địa phương khác nhau đều có kết cấu na ná giống nhau ở cả phần lễ và phần hội, vô tình đã làm mất đi bản sắc và phong vị riêng độc đáo, tạo nên lý do tồn tại từng lễ hội. Và đồng thời lại còn phải đấu tranh quyết liệt với tệ nạn buôn thần bán thánh, tệ nạn “thương mại hóa” các lễ hội, lợi dụng để biến thành dịp làm tiền và lừa đảo (đang xảy ra khá nặng nề trong thời gian gần đây). Lúc đó, các giá trị văn hóa cao đẹp đã bị buộc phải rơi vào tình trạng phản văn hóa hoặc xuống cấp rẻ tiền về văn hóa.

Với các làng nghề cổ truyền, tôi nghĩ phương hướng hiện nay là bảo vệ và gìn giữ được nền nếp tinh túy của mỗi nghề tổ trong quá trình hiện đại hóa và đưa công nghệ cải tiến vào thay cho công việc thủ công, đồng thời luôn giữ được thương hiệu độc đáo và giá trị quý hiếm của mỗi nghề tổ. Một mặt khác là môi trường và cảnh quan của các làng nghề cũng phải rất được chú ý gìn giữ để tránh bị ô nhiễm (vì hóa chất và các chất thải ngày một nhiều), chưa kể việc quy hoạch các công trình hạ tầng cũng phải hết sức thận trọng và khoa học để không bị phá vỡ cảnh quan và làm tầm thường hóa khung cảnh đặc trưng của mỗi làng cổ thuần Việt. Tôi rất buồn khi trở về ngắm lại một số làng nghề rất đẹp ở quê tôi xưa, vốn ở vùng đất Xứ Đoài cổ kính và thơ mộng. Ngày nay, đời sống kinh tế ở đó thì dư dật và phong phú hơn xưa nhiều, nhưng cảnh quan và thiên nhiên của các làng quê, thật đáng tiếc, đã bị tàn phá nghiêm trọng, cây và vườn ngày một thưa vắng hơn, nhà cửa trên đường làng có xu thế “phố huyện hóa”, được xây dựng lộn xộn đến mức không còn nhận ra được gương mặt tươi xanh và đẹp đẽ ngày xưa nữa. Ấy là chưa kể ao hồ cũng bị lấp đi quá nhiều, vào làng thấy nóng bức, ngột ngạt và chật chội hơn xưa nhiều lắm!

Một nền văn hóa chỉ có thể thăng hoa khi nó được phát triển đồng bộ, đảm bảo các mối liên hệ đa chiều và không què quặt trên bất cứ bình diện nào, đó cũng là điều chúng ta hết sức lo lắng và nỗ lực tạo ra, sao cho có đủ các tiền đề, các điều kiện để có thể đủ khả năng “cất cánh”. Khi đã có chủ trương và định hướng đúng, chúng ta còn cần hết sức quan tâm đến các giải pháp, nhất là các biện pháp cụ thể và thiết thực ở khâu thực hiện, để các chủ trương và định hướng đó có thể được đưa vào đời sống một cách phù hợp nhất, phát huy hiệu quả cao nhất. Ở khâu thực hiện này, việc xây dựng được một đội ngũ những người làm văn hóa có đủ “tâm, tầm và tài” chính là yếu tố cốt lõi để tạo ra sự chuyển biến trên thực chất. Những điều này sẽ đảm bảo đầy đủ tính chất bền vững và cả cơ sở thực tế, nhằm tạo nên sự “thăng hoa” xứng đáng của cả một nền văn hóa dân tộc, dựa trên mọi thành tựu và ưu thế của di sản quá khứ vẻ vang.