Văn hóa nghệ thuật 15 năm sau Nghị quyết Trung ương 5

Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) năm 1998 đã khẳng định tầm quan trọng của văn hóa dân tộc. Cũng từ đó, khắp mọi nơi trên các phương tiện truyền thông đại chúng, câu “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc” trở thành quá quen thuộc với nhân dân Việt Nam. Nhưng thực sự không phải ai cũng hiểu hết ý nghĩa của cụm từ này…

Nhận diện sự thật…

Không phải khi ta vực lại những lệ làng xưa, làm lại những ngày lễ lạc cúng bái từ các đình chùa, tổ chức những lễ hội rình rang với trang phục loè loẹt, với cờ phướn đủ màu… thì ta sẽ giữ gìn được bản sắc văn hóa. Người Việt giữ tục thờ cúng ông bà, đa số giữ lòng tín ngưỡng và mộ đạo, siêng năng đi chùa để cầu an cho gia đình, cho con cháu và quốc thái dân an. Nhưng từ lòng tín ngưỡng đến mê tín chỉ cách nhau một lằn ranh mỏng manh, vì vậy mà thế giới tâm linh rất trong sáng của con người đang dần bị làm hoen ố vì những kẻ buôn thần bán thánh. Hơn 8.000 lễ hội được tổ chức rình rang khắp nước với với những kiểu hành xử vô cùng thô lậu, những kiểu nhét tiền vào tay phật, hối lộ thánh thần để mua danh bán chức là một vấn nạn kinh hoàng nhất hiện nay. Ngay cả mộ chị Võ Thị Sáu cũng đang lâm vào tình trạng này, mà đau lòng hơn cả là con số cán bộ nhà nước không phải là ít trong đám đông mê tín này…

Tinh thần dân tộc dường như đã trở thành một thứ xa xỉ trên một đất nước đã nhiều lần đánh bại những tên đế quốc hùng cường nhất trên thế giới để giành độc lập. Đó là một nghịch lý đau lòng, nhưng sự thật đó đang hiển nhiên, nhan nhản khắp nơi trên cả nước. Điều trước nhất có thể nhìn thấy rõ ràng nhất, cơ bản nhất đó là tiếng Việt đang có nguy cơ bị lai tạp… Trong khi ở Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc du khách đau đầu vì những bảng hiệu của họ chỉ viết bằng tiếng Hoa, Nhật, Hàn thì ở Việt Nam, thành phố Quảng Ninh của Việt Nam người nước ngoài có thể lẫn lộn với một thành phố nào đó của Trung Quốc bởi các bảng hiệu gần như 80% là chữ Trung Quốc tràn ngập trên đường phố. Vấn đề này cơ quan chức năng có thể xử lý trong tầm tay, nhưng lạ thay nó vẫn là vấn nạn kéo dài suốt bao năm nay?!

Chúng ta “xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc” là chúng ta phải biết giữ lại những gì thuộc về cái đặc thù của chính mình và biết tiếp thu những cái hay của người để hòa vào dòng chảy văn hóa của chúng ta. Nói dễ, nhưng làm được là không dễ, bởi nếu chúng ta không có đủ lòng tự hào với văn hóa dân tộc mình thì chúng ta sẽ không có đủ nội lực để gìn giữ, bảo vệ nó …

Thực trạng rõ ràng hiện nay chính là sự áp đảo của văn hóa nước ngoài đối với công chúng trẻ. Từ con đường nghệ thuật, Hàn Quốc đã mang văn hóa xứ kim chi vào Việt Nam và từng bước trở thành làn sóng mạnh mẽ xâm thực dần vào văn hóa Việt. Trong một số bộ phim Việt, người xem bỗng dưng thấy bối cảnh ngôi nhà Việt không còn như xưa, nhân vật trong phim đã tiếp bạn bè bằng cách thức ngồi xệp dưới đất bên cái bàn thấp như người Hàn Quốc… Trang phục nam nữ trong phim cũng theo thời trang Hàn Quốc, và cốt truyện phim cũng lấy từ Hàn Quốc... Bên cạnh ấy, với sự nhập khẩu phim tràn lan, các rạp chiếu hầu hết chỉ chiếu phim nước ngoài với tỷ lệ 17 phim Việt Nam/106 phim nước ngoài, trong đó Hollywood chiếm 80%. Tất nhiên hàng ngày tiếp xúc với phim bạo lực của Mỹ tràn ngập trên các rạp chiếu, vô hình trung giới trẻ Việt gần như đã được định hướng cho một lối sống mới mà họ gọi là “hiện đại” và “thời thượng”, một lối sống thực dụng và cá nhân kiểu Mỹ trong một xã hội coi trọng vật chất hơn là đạo đức con người...

pic

Một chương trình ca nhạc được tài trợ

Thời chiến tranh, nhạc Cách mạng vẫn là tiếng hát chung của cả một thế hệ, người sáng tác, người hát và người nghe gần như có chung một nhịp đập, chỉ cần cất lên tiếng hát là đã tạo được mối rung cảm thiêng liêng. Vì vậy, chưa có lúc nào âm nhạc lại đồng hành với dân tộc như trong giai đoạn lịch sử này. Nhưng gần 40 năm sau hòa bình, cũng như mọi loại hình văn học nghệ thuật khác, cùng với cánh cửa mở rộng của thị trường, công chúng bắt đầu tiếp xúc với nhiều ca khúc dung tục đến khó chịu kiểu như: “Đã không yêu thì thôi xin đừng tìm nhauhay “Bao nhiêu nhân tình đang tìm anh ngoài kia kìa...”. Người ta gọi đó là một biến tướng của âm nhạc Việt thời thị trường. Một biến tướng mà các nhà quản lý không ngăn chặn vì cho rằng nó không hề vi phạm pháp luật(!?). Hơn thế, một số nhà đài tỉnh còn cho phát sóng những ca khúc nhảm nhí này một cách hồn nhiên, mà không hề cảm thấy rằng mình đã góp phần làm hỏng thị hiếu thẩm mỹ của công chúng trẻ. Nhưng vấn đề đau đầu nhất của ca nhạc Việt hiện nay không chỉ là chuyện “nhạc @” mà chính là vấn đề tài trợ trong âm nhạc. Bây giờ, bất kỳ một chương trình âm nhạc nào cũng có mặt các nhà tài trợ. Đơn giản là vì kinh phí của nhà nước không còn đủ sức đáp ứng các hoạt động âm nhạc và chủ trương xã hội hóa đã kéo các nhà tài trợ âm nhạc vào cuộc. Tất nhiên không ai bỏ tiền để cho không ai cái gì, nên ai cũng hiểu “tài trợ” có nghĩa là để quảng bá thương hiệu chứ không hề vì sự phát triển của âm nhạc Việt. Chính vì mục đích ấy nên các nhà tài trợ chỉ ưu tiên cho loại ca nhạc đại chúng, và đương nhiên nhạc giao hưởng, thính phòng, truyền thống dân tộc đã gần như bị bỏ quên. Sự hụt hẫng thiếu cân bằng của âm nhạc Việt hiện nay ngày càng rõ nét bởi sự chi phối từ các nhà tài trợ. Người ta gọi đó chính là sự thả nổi thị hiếu thẩm mỹ âm nhạc…, là vấn đề mà Hội Âm nhạc chỉ còn biết “nhìn, nghe, nghĩ”… vì “lực bất tòng tâm”… Đó là chưa kể đến cái gọi là văn hóa tài trợ trong những chương trình ca nhạc hiện nay, những “Con đường âm nhạc” đầy những logo lớn, logo bé giăng kín, ca sĩ máng người lên logo, đạp lên logo mà hát. Ôi, thánh đường nghệ thuật ở đâu, hay chỉ còn là một cái chợ giăng mắc các thương hiệu quảng cáo. Báo chí đề cập nhiều, lên án nhiều, nhưng rõ ràng đây là vấn đề không thể đòi hỏi từ các nhà tài trợ mà là ở chính bản lĩnh của những đơn vị nhận tài trợ.

Hiện nay trong văn học có khuynh hướng đáng ngại là sự phủ nhận những tác phẩm của các văn nghệ sĩ - chiến sĩ trong hai cuộc trường chinh bảo vệ Tổ quốc. Những tấm gương hy sinh, anh hùng được viết từ máu của cả một thế hệ trong chiến tranh bị coi là giáo điều, là một chiều, và bây giờ có nhà xuất bản có chiều hướng mới tôn vinh những tác phẩm của những tác giả chống cộng trong thời miền Nam dưới chính quyền Sài Gòn cũ. Rồi những hiện tượng như “Bóng đè” của Đỗ Hoàng Diệu, được tung lên với vô vàn lời hoa mỹ như một phát hiện mới của một số “nhà phê bình cấp tiến”. Một tác phẩm đồi trụy với cái nhìn bệnh hoạn về chính Tổ quốc mình, thẳng thừng lên án chủ nghĩa Mác là một xác chết mà được cổ vũ hoan nghênh và tác giả được giới thiệu là đại diện cho nhà văn trẻ Việt Nam đi giao lưu văn hóa vòng quanh nước Nhật. Và gần đây nhất là hiện tượng luận văn Nhã Thuyên, được chấm điểm 10 ở Trường Đại học Sư phạm Hà Nội vì ca ngợi nhóm Mở miệng, nhóm viết trẻ giễu nhại hoàn toàn giá trị văn học nghệ thuật truyền thống, cách mạng...

…Để tìm nguyên nhân và giải pháp

Nguyên nhân chính yếu ở đây chính là không có sự đồng bộ giữa Đảng và chính quyền. Nghị quyết ra đời là sự tập trung tinh hoa trí tuệ của nhiều người, mà trên hết chính là sự tiếp thu trọn vẹn tư tưởng Hồ Chí Minh. Bác Hồ đã khái quát bằng một câu: “Văn hóa soi đường quốc dân đi” bao hàm biết bao ý nghĩa thâm sâu. Đất nước mất có thể đấu tranh để giành lại được, nhưng văn hóa đã mất thì coi như mất tất cả. Các cán bộ, đảng viên đều được thấm nhuần Nghị quyết Trung ương 5, đều hiểu rõ tầm quan trọng vô cùng của văn hóa, nhưng khi thực thi thì trên mọi lãnh vực đều khó thể thực hiện vì Chiến lược đầu tư cho văn hóa của nhà nước chưa có động thái tích cực. Rất nhiều chế độ, chính sách đầu tư, tài trợ cho văn hóa vẫn còn chưa chuyển động. “Không có thực sao vực được đạo”, chúng ta vừa muốn đi theo kinh tế thị trường, mở cửa cho mọi nền văn hóa tràn vào Việt Nam, nhưng cái gốc văn hóa dân tộc không được vun bồi. Cây ô liu nghiêng ngả thì sao bảo vệ được bản sắc văn hóa. Một xã hội mà đạo đức đang xuống cấp từng ngày vì đồng tiền là vì chúng ta từ 15 năm nay chỉ học Nghị quyết 5 như một khẩu hiệu mà không hề có chiến lược toàn diện để bảo vệ văn hóa dân tộc. Muốn có phim truyền thống, nhà nước đã bỏ tiền đầu tư, nhưng đó chỉ là sự đầu tư nửa vời, vì không hề quan tâm đến việc quảng bá phim. Vì vậy, dù bỏ hàng chục tỉ đồng làm phim, nhưng phim không đến được với công chúng thì coi như đó là đồng tiền vô nghĩa. Nhạc cũng thế, chúng ta đã để cho thị trường lấn át, vì thế nền âm nhạc của dân tộc gần như bị đảo điên trong túi tiền của các doanh nhân. Các đài truyền hình là của nhà nước, nhưng số lớn xa rời định hướng dân tộc, mà gần như chỉ để phục vụ cho thị hiếu dễ dãi vì lợi nhuận quảng cáo, vì tài trợ…

15 năm Nghị quyết Trung ương 5 ra đời, nhưng thực trạng văn hóa vẫn còn quá nhiều nhiễu loạn, nguyên nhân lớn nhất vì chúng ta chưa có hành lang pháp lý rõ ràng và nghiêm minh. Nghị quyết 5 đã khẳng định “Giữ gìn và phát triển nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc” không phải chỉ là câu khẩu hiệu, mà phải được thực thi bằng chiến lược. Nó phải là cái lá chắn bảo vệ các ngành công nghiệp văn hóa nội địa trên thế giới phẳng về văn hóa hiện nay. Muốn vậy, chúng ta phải có chiến lược bảo vệ văn hóa, và phải được thực thi trên cơ sở pháp luật, phải xây dựng pháp luật về văn hóa cũng như việc htrợ cho các lĩnh vực văn hóa trong nước. Muốn có nhân tài phải biết đào tạo nhân tài, nhà nước đã có chính sách đào tạo hàng loạt các tiến sĩ, thạc sĩ ở nước ngoài, vì sao ở lãnh vực văn học nghệ thuật thì không thể? Chính phủ Hàn Quốc đã hạn chế bớt làn sóng phim Mỹ bằng cách buộc các rạp phải chiếu phim nội địa ít nhất là 106 ngày trong 1 năm. Chính sách này đồng thời với việc đào tạo nhân lực bằng ngân sách nhà nước với 300 người được đưa đi đào tạo ở Mỹ. Vấn đề của chúng ta hiện nay chính là chính sách chiến lược về văn hóa của nhà nước. Nếu ta xem nhẹ văn hóa và thả lỏng cho thị trường tự do thì hệ quả tất yếu khó lòng có thể lường trước được!!...

…Và trách nhiệm của nghệ sĩ, của công dân

Bên cạnh đó, trách nhiệm của mỗi văn nghệ sĩ là không thể làm ngơ trước những tiêu cực trong xã hội. Hiện nay, khoảng trống này trong văn học nghệ thuật vẫn quá lớn cho thấy các tác giả dường như bỏ trống trận địa và nhường sân cho báo chí. Một số vùng nông thôn hiện nay đang nảy sinh những loại cường hào ác bá mới, cướp đất dân ngụy trang dưới những mỹ từ quy hoạch, khu công nghiệp, sân gôn… đã gây xiết bao oan khốc, đau khổ cho nhân dân. Việc gióng lên tiếng chuông báo động cho toàn xã hội về vấn đề này chính là cuộc chiến đấu của những văn nghệ sĩ với những tiêu cực vẫn còn tồn đọng của xã hội. Đề tài trong nước ngồn ngộn bao nhiêu vấn đề, và chỉ có những tác phẩm nói lên tiếng nói của nhân dân, đi cùng nhân dân mới được tôn vinh và sống trong lòng nhân dân. Phần lớn những đề tài mà các đạo diễn Việt kiều chọn đều mang bản sắc Việt, vì đó là con đường vô cùng thuận lợi để họ đến với các Liên hoan Phim quốc tế. Chính sự thành công này đã cho chúng ta thấy văn học nghệ thuật Việt Nam phải bước vào dòng chảy thế giới bằng giọng nói, gương mặt của chính mình chứ không phải bằng cách nói, cách thở của người khác.

Và hơn hết chính là lòng tự trong dân tộc. Diễn viên Hàn Quốc Cha In Pyo đã từ chối một vai thứ quan trọng trong phim James Bond (điệp viên 007) của Hollywood khi biết nội dung phim có những hình ảnh xấu về người Bắc Triều Tiên, với lời bày tỏ thẳng thắn: “Nhận một vai diễn, người diễn viên có trách nhiệm rất lớn, vì nhân vật mình đảm nhận là thước đo nhân cách của cả một thế hệ thuộc về một dân tộc, chưa kể đôi khi còn có liên hệ tới chính trị, xã hội… Một vai diễn mà khi xem xong khán giả quay lưng lại vì vai diễn ấy làm xấu đi hình ảnh dân tộc thì dù tiền muôn bạc vạn, tôi cũng không nhận. Ngoài tư cách một người nghệ sĩ phục vụ cho công chúng ra, tôi còn có nhân cách của một người yêu nước. Danh dự của một dân tộc không thể đi sau đồng đôla…”. Không phải chỉ có Cha In Pyo, trước đó không lâu, Jang Don Gun sau thành công lớn từ phim JSA (với hơn 5 triệu lượt người xem) có nhà báo đã đặt vấn đề về triển vọng đến với Hollywood của anh, Jang Don Gun đã trả lời: “Tôi chỉ nhận lời sau khi đọc kỹ kịch bản; là diễn viên Hàn Quốc, tôi sẽ không bao giờ là một con rối của Hollywood”… Những nhận thức hết sức rõ ràng về lòng tự trọng dân tộc ấy chắc chắn đã được giáo dục rất nghiêm túc từ nhà trường, bởi ngay từ những bài học vỡ lòng, trẻ con Hàn Quốc đã được dạy phải biết ngẩng cao đầu tự hào vì mình là một công dân Hàn Quốc. Đó chính là nhân cách lớn nhất của một con người, một công dân, chứ chưa nói đến nghệ sĩ, những con người đại diện cho phần hồn của dân tộc…