Vĩnh biệt nhà thơ Tế Hanh

MAI QUỐC LIÊN

Nhà thơ Tế Hanh đã từ biệt cõi trần. Và thế là thêm một nhà thơ lớn nữa của nền văn học dân tộc đã ra đi. Và mỗi một lần như thế, chúng ta cảm thấy mất mát, tiếc thương và xót xa vô hạn. Những nhà thơ lớn ấy là tâm hồn và lương tâm của đất nước. Họ mất đi, đất nước cảm thấy lòng trống vắng. Dường như họ đã mang đi qua thế giới bên kia biết bao xúc cảm, tinh hoa tâm hồn, mà thiếu nó cuộc sống dễ trở nên cằn khô, lạnh lẽo.

Tế Hanh là một thi sĩ rất hiền. Ngày xưa, học ở Huế, chàng trai có đôi mắt nâu nồng nàn yêu thương ấy, bắt đầu làm thơ, bắt đầu yêu, bắt đầu bước vào Thơ Mới với Hoa niên.


Nhà thơ Tế Hanh

Làng tôi ở vốn làng nghề chài lưới.
…Tôi thấy nhớ cái mùi nồng mặn quá!

Bắt đầu thơ là lòng yêu quê hương trong sáng, nhưng cũng bắt đầu nỗi buồn – nỗi buồn của chia ly, nỗi buồn của một con đường nhỏ, nỗi buồn của tình yêu vô vọng:

Nếu em chết chắc là anh có thể
Tỏ mối tình lặng lẽ quá sâu thâm
Anh tìm đến nơi em nghỉ giấc ngàn năm
Ngồi điên dại sầu như cây liễu rũ…

Nói cho cùng, những cô gái Huế đài các ngày ấy, đâu có đáp lại tình yêu của chàng trai Quảng Ngãi “rụt rè, ngượng nghịu như một chàng rể mới” (Hoài Thanh – Thi nhân Việt Nam).

Cách mạng Tháng Tám đến như một cơn lốc. Chàng tú tài Tế Hanh tham gia cách mạng với tất cả cái nồng nàn của tuổi thanh xuân. Ở Khu 5, anh đi vào cực Nam Trung bộ (Bình Thuận, Ninh Thuận) nơi chiến trường ác liệt nhất:

Tôi gặp chị một chiều Ninh Thuận…
Vai mang gùi, đầu quấn khăn tang

9 năm ấy Khu 5 là một miền đất tự do. Và Tế Hanh đã lớn lên, sâu sắc cuộc đời từ trong miền đất ấy. Và anh vẫn nhớ về Việt Bắc, thủ đô của văn nghệ:

Có ai gọi tên tôi trong gió bấc
Trong gió nồm tôi muốn gởi lời ra…

Nhưng đến khi anh ra Bắc thì là thời đất nước chia cắt. Thơ Tế Hanh trở thành tiếng nói “ngày Bắc đêm Nam”, nỗi đau với miền Nam còn trong tay giặc, còn phải hy sinh, chiến đấu từng ngày.

“Chiêm bao bừng tỉnh giấc. Biết là em đã xa… Ban ngày. Công tác bận – Ban đêm dành nhớ em. Dù anh đâu em đâu – Hai ta vẫn gần nhau. Giấc chiêm bao đêm trước. Soi sáng cả ngày sau”.

Và:

Trời vẫn xanh một màu xanh Quảng Trị
Tận chân trời mây núi có chia đâu!

Thơ anh không nói chung chung, anh nói nỗi đau Nam – Bắc cách chia qua chính trường hợp của anh: “Im lặng”

Sinh con chưa biết mặt con
Con sinh gặp cảnh nước non cách vời
Lỡ làng một giọt máu rơi
Thân con bé bỏng cuộc đời mông mênh…

Ai có thể làm ngơ trước những câu thơ – trước nỗi đau xé lòng như thế. Vì thế, thơ của Tế Hanh đã đi vào lòng người một cách tự nhiên, đằm thắm như chính thơ anh. Nhất là những đồng bào, chiến sĩ miền Nam, những học sinh miền Nam tập kết “má còn dìu ngơ ngác biển mênh mông”…

Thơ Tế Hanh vọt ra từ đáy giếng tâm tình mát rượi và sâu thẳm của anh, thật tự nhiên, thật hồn nhiên nhưng cũng thật điêu luyện, nghệ thuật. Có nghệ thuật nào cao hơn sự tinh luyện, chắt lọc, giản dị đâu. Vì vậy, Chế Lan Viên rất thương mến Tế Hanh. Anh có thể viết hàng vạn câu thơ ngời chói, triết luận sâu xa, biến ảo khôn lường; nhưng cái câu thơ hồn nhiên mà thành của Tế Hanh, như “một cái áo trời không có đường may” (thiên y vô phùng) thật quý hiếm. Giữa Huy Cận, Xuân Diệu, Chế Lan Viên… sừng sững thi đàn, Tế Hanh khiêm tốn, nhưng anh là cả một thế giới ngọt ngào, hiền dịu, riêng biệt:

“Mùa thu đã đi qua còn gởi lại
Một chút vàng trong nắng trong cây
Một chút vui trên môi nàng thiếu nữ

(Bài thơ tình ở Hàng Châu)

Tế Hanh đã lắng nghe tâm hồn cỏ cây, hồn mình, hồn đất nước, hồn cuộc sống một cách tinh tế “Thơ phải gắn liền với dân tộc và đất nước. Trái tim của nhà thơ rung động theo những chuyển biến quan trọng của lịch sử”; anh viết. Anh đã sống hết một cuộc đời thi sĩ, cho tới những ngày lâm bệnh, đơn côi: “Khi xưa đá bóng hăm hai đứa, cờ tướng anh nay đánh một mình”.
Một cơn đột quỵ đã làm anh nằm mê hơn 10 năm. Anh đã sống bằng tình yêu, sự chăm sóc tận tình chung thủy của chị Lâm Yến, người vợ hiền của anh, “để anh ấy có được tuổi thọ”. Tuổi thọ là 88; nếu tính tuổi ta là 89; nhưng “hưởng thọ” thì ngắn hơn. Ở hiền sao chẳng gặp lành, tôi thường xa xót nghĩ về anh; nhưng nghĩ cho cùng, trong cái rủi, cái dữ, có tấm lòng của chị Yến, của Hội Nhà văn, của các anh em văn nghệ; anh Tế Hanh ra đi như thế là trọn vẹn, là “lành”.

Tế Hanh đối với tôi như một người chị. Anh quý mến văn hóa dân tộc, rất giỏi tiếng Pháp, nhưng cứ tiếc mình không học chữ Hán để tiếp thu phương Đông, dân tộc (bố anh là một nho sĩ). Thấy tôi học chữ Hán, anh luôn động viên, khuyến khích tôi, như các nhà thơ uyên bác khác từng khuyến khích.
Tế Hanh, nhà thơ, cũng là nhà bác học. Anh dịch thơ của Eluard, Aragon, Nezval, Rixtôt…, dịch các nhà thơ lớn thế giới. Và anh cũng dịch Nguyễn Trãi, Nguyễn Du… những đại thi hào dân tộc… Thế hệ các anh học trường Tây, đậu tú tài lúc ấy là “đại trí thức”, mà suốt đời học tập, nghiền ngẫm, say mê vô hạn với thơ, với nghiệp văn là vì tình yêu mê say Tổ quốc, nhân dân, lý tưởng…

Mỗi lần ra Hà Nội, ghé thăm anh, hai anh em thủ thỉ bao điều. Cho đến ngày anh đau mắt, tôi đưa anh đi dọc các phố, và đến ngày anh nằm mê man, tôi nắm tay anh, nhìn giọt nước mắt ứa ra từ đôi mắt anh, biết rằng anh có cảm nghe được một chút gì. Anh Tế Hanh ơi! Xin vĩnh biệt! Anh đã ra đi theo gót các nhà thơ bè bạn. Không phải như Aragon nói dỗi đâu anh: “Thế kỷ này già nửa đêm của tuổi – nên không cần sống trọn các nhà thơ”. Anh đi, các anh đi, thế giới này trống vắng…

Ngày 16/7/2009

Nhà thơ Tế Hanh sinh năm 1921 tại làng Đông Yên, xã Bình Dương, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi đã trút hơi thở cuối cùng hồi 12 giờ ngày 16/7 tại Hà Nội, do tuổi cao, bệnh nặng.

Là một trong những tác giả được nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học Nghệ thuật đợt 1 (năm 1996), nhà thơ Tế Hanh được công chúng yêu mến và biết đến trong các lĩnh vực: thơ; nghiên cứu lý luận phê bình; dịch văn học. Ông sáng tác thơ từ sớm và đã đứng trong phong trào Thơ mới với tập Nghẹn ngào giành giải khuyến khích của Tự lực văn đoàn. Ông cũng từng là Ủy viên thường vụ khóa I, II Hội Nhà văn Việt Nam (1957), Ủy viên thường vụ Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật Việt Nam (1963), tham gia Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam nhiều khóa, giữ các chức vụ: Trưởng ban đối ngoại (1968), Chủ tịch Hội đồng dịch thuật (1983), Chủ tịch Hội đồng thơ (1986).

Trước Cách mạng ông đã có tập thơ Hoa niên (năm 1944). Ông tham gia hoạt động cách mạng từ sớm và sáng tác đều đặn suốt hai cuộc kháng chiến cứu nước. Các tập thơ này viết bằng tình yêu đất nước dạt dào, bằng tâm hồn lạc quan hy vọng của người chiến sĩ khao khát cuộc sống hòa bình: Gửi miền Bắc (1958) Tiếng sóng (1960) Hai nửa yêu thương (1963) Khúc ca mới (1966)…

Sau khi nước nhà thống nhất, ông vẫn tiếp tục sáng tác không ngừng với các tập thơ mang hơi thở của cuộc sống mới. Đặc biệt nhiều thế hệ học sinh đều biết và thuộc bài thơ Nhớ con sông quê hương của ông.

Th.Vân

Nguồn: http://www.sggp.org.vn/searchonline/search_results26022008.asp