Xuân Đàm - Con tằm đến thác...

Khi nghe NSƯT Kim Quý nói đạo diễn Xuân Đàm đang gấp rút hoàn thành một bản thảo cuốn sách “trối già”, tôi hết sức kinh ngạc. Và khi đến thăm anh, nhìn thấy đống giấy lộn xộn, ngổn ngang ở một góc bàn, tôi mới tin đó là sự thật. Kinh ngạc, rồi khâm phục… rồi cảm động và ngậm ngùi. Chợt vang lên từ trong thăm thẳm tiềm thức tôi câu ca của dân gian: Con tằm đến thác vẫn còn buông tơ.

Tôi nói: Xuân Đàm, con tằm đến thác… mà không sợ là đã gở mồm, nói điều xui xẻo. Bởi cách đây hơn 4 năm, lúc đó tôi đang tại nhiệm chức vụ Giám đốc Sở Văn hóa - Thông tin tỉnh Quảng Trị thì anh Xuân Đàm gặp bạo bệnh. Tình trạng bệnh tật của anh nghiêm trọng đến mức chị Kim Quý, vợ anh, đã bắt đầu cho tháo dỡ mảng tường phía cửa chính để rộng lối ra vào chuẩn bị phương án lễ tang.

Tôi đã trình Ủy ban tỉnh dự kiến Ban lễ tang, lại còn điện cho NSND Trọng Khôi (lúc đó là Chủ tịch Hội Nghệ sĩ sân khấu Việt Nam) bàn về việc phối hợp tổ chức tang lễ và đề nghị anh Khôi tham gia Ban lễ tang. Tôi cũng đã bắt tay viết thảo những lời tiễn biệt. Nếu nói là gở, là xui thì chính những việc làm như đã kể trên cách đây 4 năm mới đáng sợ.

Nhưng bất chấp tất cả, Xuân Đàm vẫn ngồi dậy, vẫn đứng lên, vẫn rung rinh mái đầu bạc phơ và chòm râu già xoăn gốc rễ tre mà anh đã thôi không cạo nữa từ khi lâm bệnh, để đi bộ buổi chiều và đánh bài phỏm buổi sáng. Chỉ như vậy thôi cũng đã thấy một nghị lực đáng nể. Bây giờ lại thấy anh viết. Anh chuẩn bị ra sách.

Anh đang viết những dòng nghĩ suy về nghề, cùng với những trang viết trước đây, anh đang tổng kết lại cuộc đời mình. Mà không hẳn. Nếu tổng kết cuộc đời của một nghệ sĩ như Xuân Đàm thì một cuốn sách là quá ít ỏi. Xuân Đàm đang bộc lộ những nỗi đam mê vốn là bản chất con người và khát vọng sống của anh. Đam mê đến thơ dại. Đam mê như con tằm đến thác vẫn buông tơ.

Nghệ sĩ nhân dân Xuân Đàm.

Thực ra, tôi được biết, được quen và được cộng tác với Xuân Đàm muộn hơn nhiều so với quãng đời lăn lộn và thành công lẫy lừng trong nghiệp và nghề của anh. Anh vào quân ngũ khi tôi đang còn là cậu học sinh con nhà nghèo ở một làng quê heo hút. Anh học đại học ngành sân khấu ở Liên Xô, trở về vừa làm đạo diễn vừa làm thầy dạy đào tạo nên hàng loạt đạo diễn tài ba cho đất nước thì tôi mới chập chững viết được vài ba vở kịch trong quân đội.

Khi tôi trở thành tác giả chuyên nghiệp ở Đoàn Nghệ thuật Quân khu 4 thì được nghe danh Xuân Đàm lừng lững cây đại thụ với những vở diễn vạm vỡ để lại dấu ấn không thể lẫn nhòa trong nền sân khấu nước nhà như vở Gia đình má Bảy.

Xuân Đàm sinh ở làng Lập Thạch, phường Đông Lễ, ngoại vi phía nam thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị. Tuổi thơ của anh là đứa trẻ làng quê với tất cả sự nghèo túng, lêu lổng và vật vờ như trăm ngàn đứa trẻ khác. Anh học chữ tại trường làng. Lớn lên chưa kịp định hướng ước mơ thì bất ngờ phải nhập ngũ vào quân đội.

Bầm dập đời lính trên mảnh đất Khu 4, bất ngờ được cho chuyển ngành đi học, mà là học tận Liên Xô. Về nước được làm nghề- đạo diễn, lại được làm thầy- giảng dạy ở trường Sân khấu - Điện ảnh, rồi đắc cử vào hàng ngũ lãnh đạo Hội Nghệ sĩ sân khấu Việt Nam.

Tưởng cứ thế mà thăng tiến thì bất ngờ được điều động vào tiếp quản quê hương giải phóng, làm Đoàn trưởng Đoàn Kịch nói Bình Trị Thiên. Rồi lên Phó giám đốc Sở Văn hóa - Thông tin Bình Trị Thiên. Đang yên lành ở Huế lại bất ngờ chia tỉnh, Xuân Đàm trở thành “triệu tập viên” kéo theo vài chục người xác xơ từ Huế về lập lại Sở Văn hóa - Thông tin Quảng Trị.

Anh cùng đồng nghiệp nhặt gạch, dựng lán, leo cột treo cờ, chạy ngược chạy xuôi xin tiền, xin người về phò trợ. Tôi chính là người đang yên lành ở Nhà hát Kịch Quân đội “bị” Xuân Đàm cù rũ kéo về…

Xin kể một câu chuyện nhỏ để minh chứng cho khát vọng và tài năng của Xuân Đàm.

Đầu năm 1990, tôi từ Tổng cục Chính trị chuyển ngành về làm phó cho Xuân Đàm. Lúc đó tỉnh Quảng Trị vừa mới lập lại được nửa năm. Cả ngành văn hóa - thông tin vẻn vẹn được vài chục người, mỗi một đơn vị chỉ có dăm bảy anh, hầu hết là loại cán bộ lớn lên từ phong trào, là người của kháng chiến bàn giao lại. Cơ sở vật chất thì coi như là số không.

Các điểm di tích lịch sử cỏ tranh lút bời bời, hiện vật chiến tranh đã bị đào xới đến cùng kiệt… Ngân sách xây dựng sự nghiệp văn hóa cả tỉnh chỉ tính bằng con số vài chục, vài trăm triệu…

Đứng trước tình cảnh đó, Giám đốc Xuân Đàm tuyên bố: Mặc dù tỉnh mình nhỏ, lại mới vừa lập lại, dân số ít, tiền bạc không có, nhưng đã là một tỉnh như người ta thì người ta có gì mình phải có cái đó. Bất cứ một cuộc tề tựu nào về văn hóa của toàn quốc, Quảng Trị cũng phải có mặt. Rồi anh nhấn mạnh, không phải chỉ có mặt mà phải có mặt một cách xứng đáng.

Ngay trong năm 1990, Bộ Văn hóa tổ chức Hội diễn Sân khấu chuyên nghiệp toàn quốc tại Thành phố Hồ Chí Minh. Xuân Đàm chỉ thị cho tôi phải viết vở để anh dựng và cho đoàn kịch tham dự hội diễn.

Tôi ngớ người, hỏi: Nhưng ta có đoàn kịch đâu? Xuân Đàm đáp: Chưa có thì lập nó ra, khó gì. Tôi lại hỏi: Khi chia tỉnh lực lượng nghệ sĩ được “chia” cho Quảng Trị mấy người? Xuân Đàm đáp tỉnh khô: Hai người, vợ tao (tức nghệ sĩ Kim Quý) và thêm thằng Phùng nữa (Phùng cũng là diễn viên kịch). Tôi dè dặt hỏi anh: Vậy anh bảo tôi viết kịch bản là viết thế nào? Xuân Đàm to giọng như là chuyện đương nhiên: Thì đó, mày phải đo bò làm chuồng, viết cho tao một vở chỉ có hai nhân vật thôi, mà phải nhìn cụ thể vào con người của cô Quý với thằng Phùng để hư cấu nhân vật, đừng có loại nhân vật trẻ quá…

Nghệ sĩ ưu tú Kim Quý, người bạn đời của đạo diễn Xuân Đàm. Ảnh: Đông Hà.

Tôi nhăn nhó, viết thứ kịch ngắn như tiểu phẩm ấy thì viết làm gì, mà Hội diễn chuyên nghiệp quốc gia ai cho mình tham gia thứ kịch ngắn tiểu phẩm ấy. Xuân Đàm trợn mắt, quát lại tôi, tại sao lại kịch ngắn, tại sao lại tiểu phẩm, kịch là kịch dài, là một chương trình nghiêm chỉnh, mà phải hay. Rồi anh hạ giọng: Đã mang tiếng là kịch bản của mày, đạo diễn là tao, chẳng nhẽ lại thua chúng nó. Phải “vàng”… Dứt khoát không thua chị kém em. Thôi, không bàn nữa, cậu bắt tay viết ngay đi.

Tôi ngao ngán, không còn biết nói gì nữa. Đêm đó, nghĩ lui nghĩ tới tôi lại gọi điện cho Xuân Đàm, năn nỉ: Thú thực là tôi không tìm ra được cốt chuyện gì chỉ có hai nhân vật, anh có thể cho tôi thêm… một người nữa được không? Đầu máy kia, tôi nghe rõ tiếng anh gầm gừ, một lúc sau mới nghe thấy giọng nói đầy miễn cưỡng: Thôi được, chỉ một nữa thôi đấy.

Kịch bản Chuyện đời thường vớ vẩn với ba nhân vật đã ra đời như thế đấy. Đó là kịch bản đầu tiên tôi viết cho Đoàn Kịch Quảng Trị và cũng là vở diễn đầu tiên của Quảng Trị tham gia Hội diễn Sân khấu toàn quốc. Lúc đó, Sở Văn hóa - Thông tin chúng tôi chỉ có được một chiếc xe con Uoát đít vuông dành cho Giám đốc đi.

Xuân Đàm đã cho chất vào cái bụng chiếc xe con đó tất cả phục trang, phong cảnh, đạo cụ, máy móc cùng với 6 con người (3 diễn viên, tác giả, đạo diễn và 1 hậu đài) lọc cọc chạy từ Quảng Trị vào TP Hồ Chí Minh. Chúng tôi đã bước lên sân khấu Hội diễn quốc gia với tâm thế là một đoàn nghệ thuật sân khấu của một tỉnh bằng anh bằng chị như tâm nguyện của Giám đốc Xuân Đàm. May mắn thay, vở diễn Chuyện đời thường vớ vẩn được trao Huy chương vàng, trong ba diễn viên thì Kim Quý được giải vàng còn Phùng giải bạc.

Quay về đến tỉnh Quảng Trị, tôi chưa hoàn hồn vì sự mạo hiểm đó thì bất ngờ Giám đốc lại lệnh: Chuẩn bị cho đoàn lên đường ra Hà Nội diễn. Tôi hỏi, diễn để làm gì? (Ý tôi là có nhiệm vụ gì đột xuất không?). Xuân Đàm lại la to, diễn để cho nhân dân cả nước được xem vở, để mọi người biết rằng, đã có một Đoàn Kịch Quảng Trị hiện diện trên sân khấu Việt Nam. Tôi biết được sự đam mê và khát vọng của anh là thứ không thể can ngăn được.

Chuyến đi diễn ra Bắc cần bổ sung thêm một nhân viên điều khiển âm nhạc, một nhân viên điều chỉnh ánh sáng nữa. Đứa con trai tôi mới tốt nghiệp trường Nghệ thuật Quân đội về cũng “bị” anh điều động đi luôn. Tất cả lại nêm chặt trong chiếc xe Uoát. Rủi ro thay, sau khi hoàn thành chương trình biểu diễn, từ Hà Nội vào đến địa phận Thanh Hóa, xe gặp tai nạn, bị lật. Tất cả những người trên xe đều bị chấn thương. Nặng nhất là Thế Hùng bị đứt mất một ngón tay. Cả vợ chồng anh Đàm đều phải nhập viện.

Lần đó thật may là Ban giám đốc Sở Văn hóa tỉnh Thanh Hóa đã hết sức nhiệt tình giúp đỡ đưa anh chị em vào bệnh viện Thanh Hóa cấp cứu kịp thời. Cả Sở chúng tôi ở nhà hầu như thức trắng suốt đêm…

Năm năm làm Giám đốc Sở Văn hóa - Thông tin Quảng Trị, mặc dù là thời kỳ đầu với vô vàn khó khăn, thiếu thốn nên sự nghiệp của ngành mới ở dạng khai phá, chưa có được nhiều thành tựu, nhưng cái mà Xuân Đàm để lại cho những người kế nhiệm như tôi đấy là khát vọng lớn lao, niềm đam mê cháy bỏng đối với nghề, với sự nghiệp và với quê hương vô vàn máu thịt.

Tôi rất hay ngồi theo dõi Xuân Đàm dựng vở, kể cả vở của tôi hay vở của tác giả khác và nhận ra, thật hiếm có đạo diễn nào trăn trở, tự hành hạ mình trong sáng tạo như đạo diễn Xuân Đàm. Anh tự làm khổ mình thì đương nhiên cũng làm khổ diễn viên. Ngay đến nghệ sĩ Kim Quý là vợ anh cũng không ít lần phát cáu lên vì bị thay đổi cách dựng xoành xoạch của đạo diễn.

Nhưng không vì thế mà nói đạo diễn Xuân Đàm là loại “tự thị”, ưng gì làm nấy. Không. Tôi dám nói rõ ràng rằng, trong giới đạo diễn sân khấu Việt Nam đương đại, với những đạo diễn mà tôi được cộng tác thì Xuân Đàm là một trong số không nhiều đạo diễn biết tôn trọng tối đa tác giả. Tôn trọng tác giả không phải là những câu nói đãi bôi, khách sáo, lấy lòng, mà chính là tôn trọng văn bản kịch bản. Anh Dương Ngọc Đức, anh Nguyễn Đình Nghi, anh Xuân Đàm và cả Xuân Huyền nữa là những đạo diễn như thế.

Vì vậy, cái sự gọi là hay thay đổi xoành xoạch của Xuân Đàm quyết không phải là kiểu hành động “tự thị”, mà là hành vi lao động đến vật vã, niềm đam mê và khát vọng không bờ bến của một nhân cách luôn muốn vươn đến sự toàn bích hay chí ít cũng là những thành tựu đỉnh cao.

*

Trong tất cả sự đam mê của Xuân Đàm có một cõi mê đến ngây ngất như là bùa mê. Đó là cõi làng quê với cây đa, giếng nước, bãi cỏ, lưng trâu. Và trên tất cả cái cảnh vật hoang dại đó là hồn vía và cốt cách Việt Nam - Quảng Trị trong muôn vàn lời ru, câu ca, điệu lý.

Tôi được công tác, gần gũi với Xuân Đàm đã trên 20 năm nhưng chưa lần nào nghe anh kể về một ký ức nào đó trên đất Nga, nơi anh có đến 5 năm trai trẻ gắn bó. Cũng không hề nghe anh nhắc gì những ngày say đắm sáng tạo và giảng dạy trong trường Đại học Sân khấu Việt Nam. Lại càng không bao giờ nghe anh kể nỗi niềm của chốn “cung đình” Hội Nghệ sĩ sân khấu Việt Nam, chốn mà Xuân Đàm có đến hai nhiệm kỳ là Ủy viên Ban thư ký của hội.

Bất cứ lúc nào có cơ hội dốc bầu tâm sự với đồng nghiệp và bạn bè là Xuân Đàm nói về làng quê Lập Thạch, là nhắc đến những tập tục, những lễ hội, những đạo lý của họ tộc, xóm làng… Đặc biệt nhất là những câu ru. Xuân Đàm có thể đọc suốt đêm những câu ru, những bài giao duyên trong kho tàng dân ca dân gian Quảng Trị.

Có lần, trong một cuộc hội thảo của Sở Văn hóa - Thông tin Quảng Trị, anh vừa đọc những câu ru vừa nghẹn khóc. Hồn vía làng quê và cả thể xác của nó nữa không chỉ ngập tràn tâm hồn anh mà còn choáng ngộp trí tưởng tượng của anh, tạo nên một không gian sân khấu đặc trưng của Xuân Đàm. Có người đã khái quát rằng, sân khấu của Xuân Đàm là sân khấu của dây dợ, quang gánh, thúng mủng. Thực chất thì đó là không gian làng, văn hóa làng, thứ bùa mê đeo đẳng suốt cuộc đời và sự nghiệp anh, thứ đã trói buộc đời anh với quê hương, đã tạo nên cốt cách nghệ sĩ của Xuân Đàm.

Và như thế, nghệ sĩ Xuân Đàm không chỉ để lại cho đời một thành quả lao động sáng tạo đáng khâm phục mà chắc chắn anh sẽ để lại những dư chấn mạnh mẽ cho các thế hệ nghệ sĩ sau này một tình yêu Tổ quốc đích thực, một tình yêu có cội nguồn sâu xa từ câu ru, điệu lý, từ ao đầm, bãi cỏ làng quê. Đó là tình yêu đất nước theo cách mà nhà văn Nga Êrenbua đã nói.

Xuân Đàm, người Nghệ sĩ nhân dân theo đúng cái nghĩa cụ thể của hai tiếng NHÂN DÂN. Anh là con tằm sinh thành và trú ngụ trong cái vỏ kén NHÂN DÂN. Anh đã sống một cuộc sống của con tằm cần mẫn, và cho đến giây phút này, cái phút bù giờ của cuộc đời, con tằm Xuân Đàm vẫn khát khao nhả những óng tơ vàng để cho ráng chiều hoàng hôn càng vàng thêm cái màu vàng huyền diệu.

Tháng 9/2010


(*)

Nhà văn, Giải thưởng Nhà nước, nguyên Giám đốc Sở Văn hóa - Thông tin Quảng Trị.