Xung đột quyền lợi

Tham nhũng, hối lộ, lợi dụng chức quyền, vị thế để thu lợi bất chính thì không những xảy ra ở nước ta mà xảy ra ở mọi nơi trên thế giới kể cả những nước được cho là văn minh nhất, có nền luật pháp nghiêm minh nhất như Mỹ. 

Thế nhưng ở xứ người, một khi bị phanh phui thì phần nhiều vụ việc sẽ được xử lý gần như thỏa đáng. Trong khi ở nước ta, số các vụ việc xảy ra khá nhiều trong các ngành nghề, mức độ quá trầm trọng, làm nguy hại cho sự phát triển không những cho kinh tế, giáo dục… đến cả quốc phòng và đặc biệt làm xói mòn niềm tin của quần chúng đối với chính nghĩa và khả năng của chính quyền, bởi vì hoặc không được phát hiện kịp thời, hoặc khi đã bị phát hiện thì việc xử lý cũng không được xử nghiêm.

Điển hình là từ vụ PMU 18 trong quá khứ trải dài qua nhiều vụ khác cho đến nay như các vụ Vinashin, Vinalines làm thiệt hại hàng trăm nghìn tỉ đồng của nhà nước, là của nhân dân; hơn 365.000 ha đất bỏ hoang hóa, cấp sai đối tượng, chuyển nhượng trái pháp luật, sử dụng sai mục đích; nhiều dự án “treo” xuyên thế kỷ của trên 10.796 tổ chức, cá nhân(1)…; những vụ người Trung Quốc trúng thầu các dự án như trồng rừng, khai thác bô xít, xây dựng… cho đến các bè nuôi cá của họ ở vịnh Cam Ranh đều có nhiều vấn đề.

pic

Tất nhiên phải có nhiều nguyên nhân trong cơ chế quyền lực và quản lý đã khiến gây ra tình trạng này. Một trong những nguyên nhân quan trọng mà có lẽ là các cơ quan có thẩm quyền nước ta ít hiểu hay không hiểu là khái niệm “xung đột quyền lợi” (COI = Conflict of Interest) trong khi các nước khác rất đề cao vì đã giúp làm cho mọi quá trình điều hành, xử lý vụ việc của tất cả cơ quan nhà nước được dễ giám sát, dễ phát hiện những sai trái và nhất là dễ xử lý nghiêm minh.

Bài viết này bàn về “xung đột quyền lợi” với một số những gì đã xảy ra ở Mỹ để từ đó có thể thấy được những gì nước ta cần phải làm mới mong hạn chế đến mức tối đa tác hại của các “quốc nạn” nói trên.

Thế nào là xung đột quyền lợi?    

Một xung đột quyền lợi xảy ra khi một cá nhân hay một tổ chức có liên quan tới nhiều quyền lợi, mà một trong những quyền lợi ấy có thể phá hoại động cơ thực hiện một quyền lợi khác.

Tổng quát hơn, xung đột quyền lợi có thể được định nghĩa như là một tình huống trong đó một cá nhân hay một tổ chức (tư nhân hay nhà nước) ở vào một vị thế có thể lợi dụng khả năng nghề nghiệp hay chức vụ theo cách nào đó để trục lợi  cho cá nhân hay tổ chức ấy.

Có rất nhiều tình huống, ở đây chỉ nêu ra một số điển hình:

1. Có thể xem là một xung đột quyền lợi khi một công ty cung cấp hai dịch vụ cho nhà nước mà quyền lợi xung đột nhau. Chẳng hạn, sản xuất một loại sản phẩm và tham gia vào hội đồng lựa chọn các nhà sản xuất sản phẩm ấy. Sự xung đột ở đây là quyền lợi của công ty ngược với quyền lợi của đất nước: bầu chọn sản phẩm của công ty mình hay bầu chọn sản phẩm tốt nhất?

Để giảm tối đa sự xung đột quyền lợi loại này, chính phủ Mỹ đã lập một văn phòng RFP – US Government RFP (Request For Proposal) – để xác định xem thử có những nguy cơ tạo ra một lợi thế đáng kể cho một tổ chức trong cạnh tranh hay sẽ làm giảm tính cạnh tranh toàn diện trong quá trình đấu thầu hay không.

Còn ở ta thì sao? Có cơ quan nào không? Những “công ty sân sau” trong rất nhiều ngành nghề, tổ chức ở nước ta đích thị là những “đầu nậu” phải chịu trách nhiệm về thiệt hại nghiêm trọng cho nền kinh tế, cho sự phát triển của đất nước vì “đặc quyền” được lựa chọn cung cấp dịch vụ cho nhà nước, cho nên sẵn sàng cung cấp “chất lượng kém” để có lợi nhuận tối đa.

Những “công ty sân sau” góp phần làm giàu nhanh chóng cho rất nhiều cán bộ nhà nước; sự giàu lên của họ tỷ lệ nghịch với chất lượng của sản phẩm, công trình mà họ đã giúp cho ra đời, chẳng hạn như một công trình xây dựng rất mau xuống cấp, hay một đại học rất yếu kém vẫn được ra đời…

2. Một người có quyền quyết định chọn mua hàng hóa hay dịch vụ cho một công ty mà mua từ một người bà con gần (như người hôn phối, cha mẹ, con cái, anh chị em…) thì khó lòng tránh khỏi xung đột quyền lợi trong hai vai trò tạo quyền lợi cho công ty và tạo quyền lợi cho người bà con.

Vì lý do này, nhiều đơn xin việc làm ở Mỹ có hỏi xem thử một người xin việc có liên quan gì tới một nhân viên nào đang làm việc trong công ty hay không. Nếu có như thế thì người bà con trong công ty cần phải từ chối không tham dự vào bất kỳ quyết định thuê mướn người trong đợt này.

pic

3. Trong nghề luật pháp, nhiệm vụ trung thành phải có đối với một thân chủ không cho phép một luật sư hay một cơ sở luật làm đại diện cho bất kỳ một phe nào mà quyền lợi đối nghịch với quyền lợi của thân chủ hiện tại.

4. Một người có quyền lực đối với một tổ chức làm cho tổ chức ấy có một thương vụ với chính mình, hay với một tổ chức khác mà đem lợi cho người ấy. Người này ở cả hai phía của “đàm phán” là không chấp nhận được.

5. Việc tự điều chỉnh (self-policing) của bất kỳ một nhóm nào cũng là một xung đột quyền lợi. Nếu một tổ chức, như một công ty hay một bộ máy quan chức của chính phủ được quyền tự điều chỉnh chính sách mà không bị một tổ chức bên ngoài buộc phải làm, thì khi được yêu cầu loại bỏ các hành vi phi đạo đức bên trong bản thân nhóm của họ, thì có thể vì quyền lợi trước mắt của họ mà họ chỉ loại trừ sự biểu hiện bên ngoài của hành vi phi đạo đức hơn là chính bản thân hành vi ấy.

Hiện tượng này đã xảy ra rất nhiều ở  khắp nơi trên thế giới cũng như ở nước ta từ quá khứ cho đến hiện tại. Chẳng hạn, trong phạm vi một nước thì những vua, chúa, các nhóm độc tài chuyên quyền làm bậy; trong phạm vi toàn nhân loại thì các chính phủ thực dân, các nước mạnh về kinh tế, quân sự, kỹ thuật khống chế các nước yếu từ chính sách cấm vận cho đến dùng các chiến dịch quân sự đặc biệt, hay chủ trương bá quyền của Trung Quốc trên biển Đông, cho đến sự thao túng của những công ty độc quyền một loại sản phẩm trong tình hình toàn cầu hóa hiện nay…

6. Một người mua trang thiết bị cho một công ty có thể nhận được một số tiền thưởng tỷ lệ với ngân sách còn lại của anh ta vào cuối năm. Tuy nhiên, điều này trở nên một động cơ cho anh ta mua các trang thiết bị rẻ tiền, thiếu tiêu chuẩn.

Vì vậy, điều này ngược lại với quyền lợi của những người trong công ty mà họ phải thật sự dùng trang thiết bị ấy. W. Edwards Deming đã liệt kê “việc mua mà dựa vào giá” là điểm thứ 4 trong 14 điểm nổi tiếng của ông, và ông thường nói với ý nghĩa rằng  “Người mà mua chỉ dựa vào giá thì đáng bị cho là bịp bợm”(2).

pic

Ở nước ta, rất nhiều công trình trọng điểm trong chương trình phát triển kinh tế đã lọt vào tay các nhà thầu Trung Quốc chỉ vì họ bỏ giá thầu rất thấp so với nhà thầu các nước khác. Hậu quả tai hại không những là chất lượng công trình kém, thời gian thi công kéo dài mà còn là việc rất nhiều người Trung Quốc kéo tới sinh sống làm việc trong phạm vi thi công một cách bất hợp pháp vì họ không phải là chuyên gia cần thiết mà chỉ là những người lao động tay chân bình thường.

Sự có mặt của các đám đông công nhân bình thường người Trung Quốc trên các công trường trọng điểm nước ta sẽ gây ra những hệ lụy rất nguy không những cho đời sống xã hội mà cho cả quốc phòng.

7. Tổng quát, các đại diện có những quyền lợi khác với những thành viên mà họ đại diện. Việc nhận hối lộ để bỏ phiếu cho một đường lối nào đó thường là theo quyền lợi của họ chứ không theo quyền lợi của các thành viên mà họ đại diện.

Những hành vi này về nguyên tắc là bất hợp pháp, nhưng đôi khi là không, như trong trường hợp của một nhà chính trị ở Mỹ nhận những số tiền lớn cho chiến dịch tranh cử, và đáp lại, chấp nhận cho những người đóng góp tiền được tiếp cận với những nhà lãnh đạo chính trị.

Nền chính trị ở Mỹ bị khống chế theo nhiều cách bởi những sự đóng góp cho chiến dịch chính trị(3). Những ứng cử viên thường được xem như là “không được tin tưởng” trừ khi họ có được ngân sách cho chiến dịch tranh cử vượt xa số tiền tích góp một cách hợp lý từ những công dân có phương tiện bình thường.

Tác động nguy hiểm của loại tiền này có thể tìm thấy trong nhiều tư liệu, đáng lưu ý nhất là trong các nghiên cứu về những đóng góp cho các chiến dịch ảnh hưởng đến hành vi lập pháp. Chẳng hạn, giá đường tại Mỹ đã gần gấp đôi giá quốc tế trong suốt nửa thế kỷ nay vì các nhà lập pháp đã nhận tiền đóng góp vào chiến dịch tranh cử từ các nhà sản xuất đường(4).

Việc ủng hộ tiền cho các chiến dịch tranh cử và tiền vận động hành lang là một dạng đầu tư béo bở ở Mỹ. Stiglitz(5) đã lưu ý rằng sự suy thoái kinh tế vào cuối thập niên 2000 một phần bởi vì “Những người làm ngân hàng đã hành động một cách tham lam vì họ đã có được sự khích lệ và cơ hội để làm như thế”.

Đó là sự “bào mòn của tiền bạc trong chính trị”, vì vậy, những nhà lập pháp và tổng thống Mỹ thay vì bảo vệ quần chúng thì lại bảo vệ công nghiệp tài chính vì công nghiệp này đã đóng góp 1,7 tỉ USD cho các chiến dịch tranh cử và đã chi tiêu 3,4 tỉ USD (tổng cộng 5,5 tỉ) trong việc vận động hành lang từ 1998 tới 2008(6,7,8).

Sự đóng góp này đã khiến cho lợi nhuận của công nghiệp tài chính tăng từ 23,5% của thời gian 1986-1999 lên tới trung bình 32,6% trong thời gian 2000-2011, tức tăng 9% trong tổng lợi nhuận 3 nghìn tỉ USD, tức làm cho tổng lợi nhuận tăng 270 tỉ USD trong vòng 10 năm. Như vậy công nghiệp tài chính đã đầu tư 5,5 tỉ USD vào chính trị trong 10 năm thì lãi được 270 tỉ USD, tức là lãi 50 USD cho mỗi một đô la đầu tư. Hiếm có lãnh vực nào ngoài chính trị mà có được lãi đầu tư cao như thế trong một thời gian ngắn như thế(9).

8. Ngoài điều ấy ra, các viên chức chính phủ, hoặc được bầu chọn hay không, thường sau khi rời công sở sẽ làm việc cho các công ty tư bị ảnh hưởng bởi luật mà họ đã giúp ban hành. Thông tục này ở Mỹ được gọi là Revolving door (Cánh cửa quay tròn, như cách nói “lại quả” của ta). Các nhà cựu lập pháp và hành pháp bị cáo buộc:

a. Sử dụng thông tin trong nội bộ (inside information) cho các ông chủ mới của họ.

b. Dàn xếp các luật và các quy định với hy vọng kiếm được việc làm sinh lợi đáng kể trong lãnh vực tư nhân sau khi rời công sở.

Những điều đó tạo ra xung đột quyền lợi cho tất cả những viên chức nhà nước nhắm đến việc “lại quả” trong tương lai.    

9. Bất kỳ một cơ quan truyền thông nào cũng có xung đột quyền lợi giữa động cơ lợi nhuận và lòng mong muốn phục vụ quần chúng. Mô hình kinh doanh của các cơ quan truyền thông thương mại (bất cứ cơ quan nào chấp nhận quảng cáo) là thuyết phục khán thính giả theo ý muốn của các nhà quảng cáo (10,11,12).

Cơ quan truyền thông thương mại sẽ mất tiền nếu họ cung cấp thông tin làm phật lòng cả khán giả lẫn những nhà quảng cáo. Tất nhiên, các nhà quảng cáo không muốn nuôi những cái miệng mà lại “cắn” họ. Tương tự, các cơ quan truyền thông tương mại không dại gì “cắn” vào những cánh tay cho họ ăn!   

Ở nước ta, nhiều đài truyền hình “mạnh” đã gây khó chịu cho khán thính giả như lồng quá nhiều quảng cáo sai sự thật, phản cảm vào chương trình giải trí.

Làm sao giảm bớt tác hại của xung đột quyền lợi?

Một người bị cáo buộc về xung đột quyền lợi có thể chối rằng không có xung đột bởi vì người ấy đã không hành động một cách sai trái. Thật ra, một xung đột quyền lợi có thể tồn tại ngay cả khi không có những hành động sai trái như là kết quả của xung đột quyền lợi. Một cách để hiểu điều này là sử dụng thuật ngữ “xung đột vai trò” (Conflict of Roles).

Một người đóng hai vai. Trong tự bản thân nó, việc giữ hai vai không phải là bất hợp pháp, nhưng những vai trò khác nhau chắc chắn sẽ tạo động cơ cho những hành động sai trái trong một số trường hợp. Chẳng hạn, những nhà bình luận về nghề nghiệp lý luận rằng không phải là sự trùng hợp ngẫu nhiên mà phần nhiều những nhà kinh tế tài chính tham gia cố vấn cho các công ty ở Wall Street cực lực chống lại việc điều tiết lãnh vực tài chính(13).

Một số biện pháp khả thi:

1. Loại bỏ: Cách tốt nhất để xử lý các xung đột quyền lợi là làm cho chúng không có cơ may xảy ra. Chẳng hạn, một ai đó được bầu vào một văn phòng chính trị thì nên bán tất cả cổ phiếu công ty mà người ấy có trước khi nhậm chức, và từ chức khỏi tất cả các hội đồng quản trị công ty.

Hay là người ấy có thể chuyển các cổ phiếu công ty tới một cơ sở tín dụng đặc biệt ở đó được quyền mua và bán cổ phiếu nhưng không được tiết lộ sở hữu chủ (cơ sở tín dụng mù - blind trust). Với một cơ sở tín dụng như thế, thì nhà chính trị vì không biết trong công ty nào họ có đầu tư, nên ắt sẽ không có cố gắng hành động cho lợi thế của họ.

2. Khai báo: Thông thường, những nhà chính trị và các quan chức cao cấp của chính quyền được  yêu cầu phải khai báo thông tin tài chính hàng năm - các tài sản như cổ phiếu, nợ như tiền vay mượn, và các chức vụ nắm giữ trong công ty.

Để bảo vệ tính riêng tư (tới một phạm vi nào đó), các con số tài chính thường được khai báo trong các phạm vi như “100.000 tới 500.000 USD” và “trên 2.000.000  USD”. Trong một vài trường hợp, việc không khai báo đầy đủ được xem là phạm tội.

3. Sự rút lui vì thiếu tư cách pháp lý:

Những người có xung đột quyền lợi tự rút lui khỏi (nghĩa là từ chối khỏi) nơi có xung đột quyền lợi. Chẳng hạn, nếu hội đồng điều hành của một cơ quan chính quyền xem xét việc thuê một công ty tư vấn về một vấn đề, và một công ty đang được xem xét lại có một cộng sự là một người bà con gần của một trong những thành viên của hội đồng điều hành ấy, thì thành viên ấy không nên bỏ phiếu về việc công ty nào được chọn, không nên tham gia vào bất kỳ quyết định nào, kể cả các bàn luận trong việc thuê công ty tư vấn.

4. Lượng giá của phe thứ ba (Third-party evaluations):  Hãy xem tình huống trong đó chủ sở hữu đa số cổ phần của một công ty cổ phần hóa quyết đinh mua thiểu số cổ đông còn lại và biến công ty thành công ty tư nhân. Cái giá hợp lý là bao nhiêu? Hiển nhiên là không hợp lý (và, thường thường, bất hợp pháp) khi chủ sở hữu đa số cổ phần tự ý phán ra một cái giá và rồi yêu cầu hội đồng quản trị (đa số theo ý của người này) chấp thuận cái giá ấy.

Thông thường, điều nên làm là thuê một cơ quan độc lập (phe thứ ba), đầy đủ tư cách chuyên môn và pháp lý để lượng giá và đưa ra một “cái giá hợp lý”, rồi cái giá đó sẽ được bỏ phiếu bởi thiểu số các cổ đông còn lại.

Vì những tiêu chuẩn đạo đức không thể bao trùm tất cả mọi tình huống, một số chính quyền đã thiết lập một văn phòng gồm các ủy viên về đạo đức (office of the ethics commissioner). Ủy viên về đạo đức nên được bổ nhiệm bởi cơ quan lập pháp (legislature) và nên báo cáo với cơ quan lập pháp.

Vậy các cấp chính quyền và quốc hội nước ta nên làm thế nào để hạn chế tối đa tác hại của xung đột quyền lợi xem ra đang gây ra thiệt hại rất lớn cho công cuộc xây dựng đất nước?
_________


(1)Lê Kiên, Cần những Bao Công, Tuổi Trẻ, 8/6/2012
(2)W. Edwards Deming, Key principles,
http://en.wikipedia.org/wiki/W._Edwards_Deming
(3)Conflict of Interest, 
http://en.wikipedia.org/wiki/Conflict_of_interest,  ^ a b Lessig 2011, pp. 29-32.
(4)Stern, Philip M. (1992). Still the Best Congress Money Can Buy. Regnery Gatgeway. pp. 168-176
(5)Stiglitz, Joseph E. (2010). Freefall: America, Free Markets, and the Shrinking of the World Economy. Norton. pp. 5-6.
(6)McChesney, Robert W. (2004). The Problem of the Media: U.S. Communication Politics in the 21st Century. Monthly Review Press. ISBN 1-58367-105-6. Retrieved 2012.02.09
(7)[|Potter, Gary W.]; [|Kappeler, Victor E.], eds. (1998). Constructing Crime: Perspectives on Making News and Social Problems. Waveland Press. ISBN 0-88133-984-9. Retrieved 2012.02.09
(8)McChesney, Robert W. (2008). The Political Economy of the Media: Enduring Issues, Emerging Dilemas. Monthly Review Pr.. pp. 335-337. ISBN 978-1-58367-161-0
(9)Conflict of interest, http://en.wikipedia.org/wiki/Conflict_of_interest,  Finance Industry and economists
(10)Lessig 2011, pp. 43-52, 117
(11) McChesney, Robert W. (2004). The Problem of the Media: U.S. Communication Politics in the 21st Century. Monthly Review Press. ISBN 1-58367-105-6. Retrieved 2012.02.09.
(12) McCheney, Robert W. (2008). The Political Economy of the Media: Enduring Issues, Emerging Dilemmas. Monthly Review Press. ISBN 1-58367-161-0
(13)The Economist, Dismal ethics, An intensifying debate about the case for a professional code of ethics for economists, 6 January 2011